SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN THẾ KÍCH THÍCH THỊ GIÁC ĐƯỢC ĐO BẰNG KỸ THUẬT GOOGLES VEP VÀ PATTERN REVERSAL VEP TRÊN NGƯỜI BÌNH THƯỜNG 19-24 TUỔI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vẫn đề: Ghi điện thế kích thích thị giác (Visual Evoked Potential-VEP) là một trong các phương pháp thăm dò điện sinh lý được úng dụng trong nghiên cứu thị lực, các bệnh lý về mắt và thị thần kinh. Mục tiêu: Xác định và so sánh đặc điểm các sóng VEP được đo bằng hai kĩ thuật googles VEP và pattern reversal VEP. Đối tượng và phương pháp: Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng hai phương pháp ghi VEP: đeo kinh kích thích mắt trực tiếp (Googles-VEP; G-VEP) và kích thích bằng màn hình đảo (Pattern reversal-VEP; PR-VEP) trên 30 đối tượng người bình thường, khỏe mạnh (16 nam và 14 nữ) lứa tuổi 19-24. Kết qua: thời gian tiềm tàng (TGTT) của sóng N;s, Poo, Nias ở nam và nữ giữa hai kỹ thuật G-VEP và PR-VEP của nhóm nghiên cứu tương ứng là (73,00 + 6,06; 71,80 + 5,32); (71,53 + 4,96; 69,30 + 3,89); (107,27 + 10,99; 100,26 + 4,96); (105,53 + 9,26; 99,92 + 5,06); (140,61 + 10,96; 140,65 + 12,53); (141,57 + 16,54; 139,45 + 15,48); Biên độ của các sóng P100; Nịa¿s ở nam và nữ giữa hai kỹ thuật G-VEP và PR-VEP của nhóm nghiên cứu tương ứng là (10,01 + 5,16; 5,23 + 2, 75); (71,61 + 5,31; 7,34 + 3,56); (7,72 + 6,07; 4,45 + 2,21); (9,58 + 4,99; 6,24 + 3,24). Kết luận: Thời gian tiêm tàng của sóng P99 kéo dài hơn và biên độ sóng Poo, Nias cao hơn khi do bằng kỹ thuật G-VEP so với kỹ thuật PR-VEP.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
điện thế kích thích thị giác, đeo kính kích thích mắt trực tiếp, kích thích bằng màn hình đảo
Tài liệu tham khảo
Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả
- Thị Khánh Tống, Đình Tùng Lê , Thị Kim Thanh Hồ, Thanh Tuấn Đỗ, ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐA KÍ GIẤC NGỦ CỦA NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN GIẤC NGỦ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 25 Số 4 (2021)
- Mỵ Duy Hoàng Linh, Đinh Quang Huy, Đỗ Thanh Tuấn, Lê Đình Tùng, ĐẶC ĐIỂM SÓNG ĐIỆN THẾ ÂM KHÔNG PHÙ HỢP (MISMATCH NEGATIVITY) Ở NGƯỜI VIỆT NAM BÌNH THƯỜNG TRONG ĐỘ TUỔI 18 – 21 , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 28 Số 2 (2024)
- Lê Đình Tùng, Sinh hoạt khoa học: Bệnh đái tháo đường và cơ chế sinh học phân tử , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 19 Số 2 (2015)
- Khuc Thi Tai Linh, Dinh Tung Le, Van Dan Bui, THE PREVALENCE OF ANTIPHOSPHOLIPID ANTIBODIES AND THEIR CORRELATION WITH CLINICAL, LABORATORY FINDINGS IN SYSTEMIC LUPUS ERYTHEMATOSUS PATIENTS , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 27 Số 3 (2023)
- Nguyễn Thị Ly, Hồ Thị Kim Thanh, Lê Đình Tùng, NGHIÊN CỨU ĐÁP ỨNG GIAO CẢM DA Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 27 Số 4 (2023)
- Trần Trọng Đạt, Đình Tùng Lê, ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC GIẤC NGỦ CỦA NGƯỜI BỆNH MẮC HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ DO TẮC NGHẼN KHI NGỦ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 27 Số 4 (2023)
- Hoàng Danh Tân, Lê Đình Tùng, Bùi Văn Dân, MỐI LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ CHỈ SỐ VIÊM VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Ở NGƯỜI BỆNH MÀY ĐAY MẠN TÍNH , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 27 Số 4 (2023)
- Vũ Thị Hinh, Lê Đình Tùng, ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN THẾ HOẠT ĐỘNG CƠ TOÀN PHẦN KHI KÍCH THÍCH THẦN KINH TRỤ LIÊN TIẾP Ở NGƯỜI KHỎE MẠNH 20 - 24 TUỔI , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 23 Số 2 (2019)
- Đỗ Thị Huệ, Nguyễn Văn Hướng, Lê Văn Quân, Lê Đình Tùng, TỐC ĐỘ DẪN TRUYỀN THẦN KINH CHI TRÊN Ở NGƯỜI BÌNH THƯỜNG LỨA TUỔI 40 – 60 , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 23 Số 2 (2019)