So sánh kết quả điều trị nhiễm sắc nướu bằng laser diode 940 nm và laser Er,Cr:YSGG 2780 nm: thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên chia nửa miệng
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
NhiễmNhiễm sắc nướu do tăng lắng đọng melanin là mối quan tâm thẩm mỹ ngày càng phổ biến; laser được xem là lựa chọn ưu thế, nhưng bằng chứng so sánh trực tiếp giữa laser diode và laser Er,Cr:YSGG trên người Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: So sánh kết quả điều trị nhiễm sắc nướu bằng laser diode 940 nm và laser Er,Cr:YSGG 2780 nm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, chia nửa miệng trên 30 bệnh nhân từ 18 tuổi có nhiễm sắc nướu lan tỏa hai bên tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, 3/2023 - 5/2024. Mỗi bệnh nhân được điều trị đồng thời hai bên theo phân bổ ngẫu nhiên, hình thành nhóm D (diode 940 nm) và nhóm E (Er,Cr:YSGG 2780 nm), mỗi nhóm 30 nửa hàm. Kết cục gồm chỉ số DOPI, phân loại Hedin, thang lành thương Landry - Turnbull - Howley, thang đau VAS và mức độ hài lòng, đánh giá ngay sau điều trị, ngày 1, ngày 7, 1 tháng và 3 tháng. Kết quả: Cả hai kỹ thuật đều làm giảm rõ rệt điểm DOPI ở mọi thời điểm (p<0,001). Ngày 7, mức giảm ở nhóm D lớn hơn có ý nghĩa (0,37 ± 0,49 so với 0,67 ± 0,55; p=0,029). Nhóm D có tỷ lệ sưng nướu ngày 1 thấp hơn (10,0% so với 33,3%; OR=4,50; p=0,028) và tỷ lệ lành thương xuất sắc sau 3 tháng cao hơn (83,3% so với 26,7%; p<0,001). Tỷ lệ hài lòng khi nói sau 1 tuần, khi ăn sau 1 ngày và về màu sắc nướu sau 3 tháng đều cao hơn ở nhóm D (p<0,05). Không ghi nhận biến chứng nặng; toàn bộ bệnh nhân hết đau và hết chảy máu sau 7 ngày. Kết luận: Cả hai kỹ thuật đều an toàn, hiệu quả. Laser diode 940 nm ưu thế hơn về lành thương sớm, giảm sưng, độ ổn định kết quả khử sắc tố và mức độ hài lòng, nên được ưu tiên lựa chọn. sắc nướu do tăng lắng đọng melanin là mối quan tâm thẩm mỹ ngày càng phổ biến, trong đó laser hiện được xem là lựa chọn điều trị ưu thế; tuy nhiên bằng chứng so sánh trực tiếp giữa laser diode và laser Er,Cr:YSGG trên người Việt Nam còn rất hạn chế. Mục tiêu: So sánh kết quả điều trị nhiễm sắc nướu bằng laser diode 940 nm và laser Er,Cr:YSGG 2780 nm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, thiết kế chia nửa miệng, trên 30 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên có nhiễm sắc nướu lan tỏa hai bên đến khám tại phòng khám Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2024. Mỗi bệnh nhân được điều trị đồng thời hai bên bằng hai loại laser theo phân bổ ngẫu nhiên, tạo thành 30 nửa hàm cho mỗi phương pháp. Kết quả được đánh giá bằng chỉ số nhiễm sắc nướu DOPI, phân loại hình thái Hedin, thang lành thương Landry - Turnbull - Howley, thang đau VAS và mức độ hài lòng của bệnh nhân tại các thời điểm ngay sau điều trị, ngày 1, ngày 7, 1 tháng và 3 tháng. Kết quả: Cả hai loại laser đều làm giảm rõ rệt điểm DOPI ở tất cả các thời điểm so với trước điều trị (p<0,001). Tại thời điểm ngày 7, mức giảm ở nhóm laser diode lớn hơn có ý nghĩa (0,37 ± 0,49 so với 0,67 ± 0,55; p=0,029); các thời điểm còn lại không khác biệt (p>0,05). Nhóm laser diode có tỷ lệ sưng nướu ngày 1 thấp hơn (10,0% so với 33,3%; OR=4,50; KTC 95% 1,1-18,5; p=0,028) và tỷ lệ lành thương xuất sắc sau 3 tháng cao hơn (83,3% so với 26,7%; p<0,001). Tỷ lệ hài lòng khi nói sau 1 tuần, khi ăn sau 1 ngày và về màu sắc nướu sau 3 tháng đều cao hơn ở nhóm laser diode (p<0,05). Không ghi nhận biến chứng nặng; toàn bộ bệnh nhân hết đau và hết chảy máu sau 7 ngày ở cả hai nhóm. Kết luận: Cả hai loại laser đều an toàn và hiệu quả trong khử sắc tố nướu. Laser diode 940 nm cho ưu thế về lành thương sớm, giảm sưng, ổn định kết quả khử sắc tố và mức độ hài lòng của bệnh nhân, nên được ưu tiên lựa chọn.
Chi tiết bài viết

This work is licensed under a Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.
Từ khóa
nhiễm sắc nướu, laser diode, laser Er,Cr:YSGG, chỉ số DOPI, chia nửa miệng.
Tài liệu tham khảo
Các bài báo tương tự
- Trần Hải Anh, ĐẠC ĐIỂM MỘT SỐ THÔNG SỐ SỐNG ALPHA CỦA ĐIỆN NÃO ĐỒ TRÊN BỆNH NHÂN TÂM THÂN PHÂN LIỆT VÀ NGƯỜI BÌNH THƯỜNG , Tạp chí Sinh lý học Việt Nam: Tập 24 Số 3 (2020)
Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.