HIỆU QUẢ, ĐỘ BỀN VÀ TRẢI NGHIỆM CỦA BỆNH NHÂN KHI SỬ DỤNG ÁO NẸP CHỈNH HÌNH CHẾ TẠO BẰNG CÔNG NGHỆ IN 3D TRONG ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG - ĐIỀU TRỊ BỆNH NGHỀ NGHIỆP

Nguyễn Hoài Nam1, Phan Minh Hoàng2, Đinh Quang Thanh2, Lê Phan Hoàng Chiêu3,4, Lê Anh Ngọc2, Đinh Thị Lan2, Hà Ngọc Nguyên5, Nguyễn Thanh Hiền6, Ngô Trần Tuấn Đạt7, Phan Hồ Công Hậu6, Nguyễn Minh Huy6, Lý Khắc Tòng7, Trần Nhất Thụ5, Lê Thị Hạ Quyên2, Nguyễn Hồng Hà8
1 Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
2 Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
3 Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
4 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
5 Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
6 Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật D&C
7 Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
8 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Áo nẹp chỉnh hình là biện pháp bảo tồn có bằng chứng tốt nhất trong vẹo cột sống vô căn, song dữ liệu theo dõi dọc về áo nẹp in 3D tại Việt Nam còn thiếu. Mục tiêu: Xác định mức cải thiện góc Cobb, độ bền vật liệu và trải nghiệm của bệnh nhân sau 12 tháng mang áo nẹp in 3D. Đối tượng và  phương pháp  nghiên cứu: Can thiệp lâm sàng một nhóm so sánh trước - sau trên 30 bệnh nhân còn tiềm năng tăng trưởng (Risser dưới 5), góc Cobb 25-60°, tại Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, 2024-2026. Góc Cobb đo trên X-quang EOS trước và sau 12 tháng; trải nghiệm khảo sát bằng bộ câu hỏi cấu trúc và SRS-22r; cơ lý tính vật liệu kiểm định tại QUATEST 3. Kết quả: Cả 30 bệnh nhân hoàn tất theo dõi. Sau 12 tháng, góc Cobb đường cong chính giảm từ 34,8 ± 7,7° xuống 26,0 ± 8,7° (p < 0,001); trong 20 trường hợp thay đổi phân loại mức độ vẹo, cả 20 đều theo hướng cải thiện và không trường hợp nào tiến triển từ 5° trở lên. Tỷ lệ nắn chỉnh tương đối đạt 29,0 ± 13,1% ở nhóm Cobb 25-40° so với 15,3 ± 10,0% ở nhóm trên 40° (p = 0,029). Độ bền kéo ba mẫu đạt 34,43 ± 0,35 MPa, vượt ngưỡng 16 MPa, nhưng độ cứng Shore D bằng 77 nằm ngoài khoảng tiêu chí 50-60 đặt ra trước. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là đau tại vị trí tì đè (32,0%), không có nhiễm trùng da hay teo cơ; tổng điểm SRS-22r đạt 3,7 ± 0,6. Trong bốn biến được khảo sát, số giờ mang nẹp thực tế mỗi ngày là biến duy nhất tương quan thuận với mức cải thiện góc Cobb (rho = 0,55; p = 0,002). Kết luận: Áo nẹp in 3D cho hiệu quả nắn chỉnh bước đầu khả quan; bộ tiêu chí cơ lý tính vật liệu cần được rà soát lại.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo