GIÁ TRỊ CỦA CÁC CHỈ SỐ ĐO TỐC ĐỘ DẪN TRUYÈN Ở DÂY THẦN KINH GIỮA TRONG CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG ÓNG CỎ TAY TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUÉ

Nguyễn Thị Hiếu Dung

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: 1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và các chỉ số nghiên cứu dẫn truyền vận động và cảm giác dây thần kinh giữa ở bệnh nhân có hội chứng ống cổ tay; 2) Xác định độ nhạy và độ đặc hiệu của các chỉ số đo tốc độ dẫn truyền ở dây thần kinh giữa trong chẫn đoán hội chứng ống cổ tay. Phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng gồm 48 bệnh nhân được chẩn đoán mắc HCÔCT tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế. Tất cả bệnh nhân đều được khám lâm sàng và đo điện cơ nhằm xác định các đặc điểm của HCÔCT. Kết quả: Trong 48 bệnh nhân mắc HCÔCT, triệu chứng tê tay thường gặp nhất (89,3%), các triệu chứng thường gặp khác là tê khi chạy xe (68,0%), tê ban đêm (58,7%), các triệu chứng về vận động thường
xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh. Độ nhạy của nghiệm pháp Phalen, nghiệm pháp Durkan
và dấu hiệu Tinel lần lượt là 72,0%, 57,3% và 36,0%; độ đặc hiệu lần lượt là 62,5%, 75,0% và
72,5%. Ngưỡng đánh giá sự kéo dài của thông số DMLg là 4,05 ms, DSLg là 2,95 ms, hsDM là 1,65 ms, hsDSLgt là 1,15 ms và hsDSLgg là 1,70 ms. Thông số hsDML có độ nhạy cao nhất (91,7%) nhưng độ đặc hiệu thấp nhất (80,5%), độ nhạy cao thứ hai là DMLg (87,5%). Các thông số DMLg, DSLg, hsDSLgt, hsDSLgq đều có độ đặc hiệu cao trong khoảng 90-100%. Kết luận: Các chỉ số hsDML, hsDSLgt, DMLg, DSLg có ý nghĩa trong chẳn đoán và phân loại mức độ nặng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo