Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp
<p>Tạp chí Sinh lý học Việt Nam là tạp chí khoa học chuyên ngành Sinh lý học. Tạp chí đăng tải các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo tổng quan,các thông tin khoa học mới, các thông báo khoa học thuộc chuyên ngành Sinh lý học và các chuyên ngành có liên quan như Sinh lý học Y học, Sinh lý học Người và Động vật, sinh lý học nghề nghiệp, sinh y học tái tạo, sinh lý – dược lý, sinh lý học thể dục thể thao, sinh lý học xã hội, y học chức năng và các lĩnh vực thuộc về thăm dò chức năng.</p>Hội Sinh lý học Việt Namvi-VNTạp chí Sinh lý học Việt Nam1859-2376NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI SIÊU ÂM ĐỘNG MẠCH CÁNH TAY KHI VẬN ĐỘNG BÀN TAY GẮNG SỨC Ở NGƯỜI TRẺ TUỔI
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/178
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu này nhằm khảo sát sự biến đổi về hình thái và chức năng của động mạch cánh tay ở người trẻ khỏe mạnh (18-39 tuổi) bằng siêu âm 2D, TM và Doppler trước và ngay sau khi vận động gắng sức bàn tay. <strong>Phương pháp:</strong> Dữ liệu thu thập từ 204 động mạch cánh tay ở 102 đối tượng (48 nam, 54 nữ). <strong>Kết quả:</strong> Đường kính động mạch cánh tay tăng nhẹ, vận tốc dòng máu (Vs, Vd, Vm) tăng lên rõ rệt (Vs từ 69,8cm/s lên 122,3cm/s; Vd từ 5,5cm/s lên 40,0cm/s; Vm từ 18,0cm/s lên 65,1cm/s) và lưu lượng máu tăng gần 4 lần (từ 104,8ml/phút lên 399,5ml/phút) sau gắng sức. Các chỉ số trở kháng (RI, PI, Vs/Vm) giảm đáng kể (RI từ 0,94 xuống 0,66; PI từ 4,38 xuống 1,32). Có sự khác biệt về kích thước và lưu lượng máu động mạch cánh tay giữa nam và nữ, cũng như một số biến đổi về trở kháng và lưu lượng giữa hai nhóm tuổi 18-29 và 30-39 sau gắng sức bàn tay. <strong>Kết luận:</strong> Những phát hiện này góp phần bổ sung các thông số tham chiếu cho siêu âm động mạch cánh tay trong điều kiện sinh lý bình thường và khi hoạt động thể lực.</p>Đoàn Trần CôngLINH LY LƯƠNGThị Như Quỳnh ĐinhTrung Nghĩa Nguyễn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-07-212026-07-2130311010.54928/vjop.v30i3.178ĐẶC ĐIỂM ĐA HÌNH RS1801133 GEN MTHFR Ở SẢN PHỤ MẮC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KÌ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN CẦN THƠ
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/224
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Khảo sát đặc điểm đa hình rs1801133 gen <em>MTHFR</em> ở sản phụ mắc đái tháo đường thai kì tại Bệnh viện Phụ Sản Cần Thơ. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 96 sản phụ được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ từ tháng 6/2023 đến tháng 6/2024. <strong>Kết quả</strong>: Nhóm tuổi dưới 35 chiếm 63,5%; BMI trước mang thai bình thường chiếm 61,5%; 82,3% sản phụ không có tiền sử gia đình mắc đái tháo đường. Kiểu gen CC, CT và TT có tỷ lệ lần lượt là 65,6%; 31,3% và 3,1%; tần số alen C và T tương ứng là 81,3% và 18,8%. Phân bố kiểu gen phù hợp với trạng thái cân bằng Hardy–Weinberg (χ²=0,063; p=0,802). Chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố kiểu gen, alen hoặc mô hình kiểu gen rs1801133 theo tuổi, BMI trước mang thai, tiền sử gia đình mắc đái tháo đường, giai đoạn thai kỳ và tuổi thai trung bình (p>0,05). <strong>Kết luận: </strong>Kiểu gen CC và alen C của đa hình rs1801133 chiếm ưu thế ở sản phụ mắc đái tháo đường thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ. Chưa ghi nhận mối liên quan giữa đa hình rs1801133 với các đặc điểm lâm sàng khảo sát trong nghiên cứu.</p>Thị Ngọc Nga PhạmHồng Hà NguyễnMinh Thiết TrịnhQuốc Vũ Huỳnh VănNhật Tín Lê
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-07-242026-07-24303111710.54928/vjop.v30i3.224ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH MÀNG TRONG Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NINH THUẬN
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/226
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh X-quang và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh.<strong> Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 36 trẻ sơ sinh được chẩn đoán bệnh màng trong trong số các trẻ sơ sinh suy hô hấp nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận (5/2019 - 5/2020). <strong>Kết quả: </strong>Trong số trẻ bệnh màng trong, trẻ nam chiếm 66,7%; 58,3% có tuổi thai < 32 tuần và 61,1% cân nặng < 1500 gam; Tất cả trẻ khởi phát suy hô hấp trong giờ đầu sau sinh; tím trung tâm 91,7%, SpO₂ trung vị 88% [80 - 89]; suy hô hấp mức độ nặng 30,6%. Trên X-quang, phân độ bệnh màng trong: độ I 30,6%, độ II 19,4%, độ III 22,2%, độ IV 27,8%. Phân tích đơn biến đầy đủ các yếu tố cho thấy điểm Apgar phút thứ nhất <7 điểm liên quan có ý nghĩa với mức độ nặng (độ III-IV) của bệnh màng trong (OR = 6,76; p = 0,018); sau hiệu chỉnh đa biến, điểm Apgar thấp vẫn là yếu tố liên quan độc lập (OR hiệu chỉnh = 5,30; 95%CI: 1,17 - 24,07; p = 0,031).<strong> Kết luận: </strong>Bệnh màng trong gặp chủ yếu ở trẻ non tháng, nhẹ cân, biểu hiện suy hô hấp sớm và nặng. Điểm Apgar phút thứ nhất < 7 điểm là yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh trên X-quang.</p>Chương Lê VũAnh Nguyễn Thị NgọcTuấn Trần TháiViên Lê Thị KimYên Hoàng Thị Thủy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-07-312026-07-31303182410.54928/vjop.v30i3.226NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH LỒNG NGỰC ĐA DÃY Ở BỆNH NHÂN GIÃN PHẾ QUẢN DO VIÊM PHẾ QUẢN MẠN
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/234
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính và tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với hình ảnh cắt lớp vi tính ở bệnh nhân giãn phế quản do viêm phế quản mạn.<strong> Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 120 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phế quản mạn có giãn phế quản xác định trên cắt lớp vi tính ngực tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 5 năm 2026.<strong> Kết quả: </strong>Tuổi trung vị 73,5 (IQR: 65,25-82), nữ giới 51,7%. Tỷ lệ hút thuốc lá 55%, số gói-năm trung vị 13. Ho và khạc đờm mạn tính gặp ở 100% bệnh nhân, ran nổ là dấu hiệu thực thể phổ biến nhất (56,7%). Trên cắt lớp vi tính, hình vòng nhẫn 100%, hình đường ray 89,2%, đa số giãn phế quản mức độ nhẹ (75%), thể hình trụ chiếm ưu thế (75,8%). Thời gian mắc bệnh liên quan có ý nghĩa với mức độ giãn phế quản (p<0,001); tình trạng hút thuốc lá không có mối liên quan có ý nghĩa với mức độ giãn phế quản (p=0,525), nhưng số gói-năm trong nhóm có hút thuốc liên quan chặt theo kiểu liều-đáp ứng (p<0,001). Sau hồi quy đa biến, dày thành phế quản (OR=5,76; KTC 95%: 2,12-15,61) và đông đặc phổi (OR=4,96; KTC 95%: 1,29-19,08) là yếu tố độc lập với ran nổ; khí phế thũng là yếu tố độc lập mạnh nhất với khó thở (OR=15,58; KTC 95%: 4,95-49,06). <strong>Kết luận: </strong>Giãn phế quản do viêm phế quản mạn chủ yếu gặp ở người cao tuổi, đa số mức độ nhẹ và thể hình trụ. Thời gian mắc bệnh và mức độ phơi nhiễm thuốc lá tích lũy liên quan chặt với mức độ nặng trên hình ảnh học. Dày thành phế quản và đông đặc phổi là yếu tố hình ảnh học độc lập với ran nổ. Khí phế thũng là yếu tố độc lập mạnh nhất với khó thở.</p>Lan Anh Nguyễn ThịPhước Bảo Quân NguyễnGiao Hạ NguyễnAnh Quân TôThị Ngọc Trâm Nguyễn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-07-312026-07-31303253610.54928/vjop.v30i3.234KẾT QUẢ LẤY HUYẾT KHỐI BẰNG DỤNG CỤ CƠ HỌC TRONG ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO CẤP DO TẮC MẠCH LỚN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/228
<p><strong>Đặt vấn đề và mục tiêu</strong>: Đột quỵ não là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Can thiệp lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học đã được chứng minh hiệu quả ở bệnh nhân nhồi máu não cấp do tắc mạch lớn. <strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị bằng phương pháp trên ở 243 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não do tắc mạch lớn nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang từ 05/2023 đến 12/2025. <strong>Kết quả nghiên cứu</strong>: Tuổi trung bình 62,4±12,8; tắc động mạch não giữa chiếm 46,1%. Thời gian trung bình từ nhập viện đến tái thông một phần và hoàn toàn lần lượt là 359±211 phút và 393±224 phút. Thời gian tái thông liên quan có ý nghĩa với mức độ tái thông (p=0,002). Tỷ lệ tái thông tốt đạt 93%. Điểm NIHSS giảm từ 16,8±6,7 lúc vào viện xuống 9,9±9,2 khi xuất viện. Sau 3 tháng, 44% bệnh nhân đạt mRS 0–2; 26% còn di chứng trung bình và 30% di chứng nặng hoặc tử vong. Biến chứng thủ thuật 7,4%. <strong>Kết luận</strong>: Kết quả cho thấy can thiệp cơ học mang lại hiệu quả phục hồi khả quan ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não do tắc mạch lớn.</p>Thảo Nguyễn VănTuấn Trần QuốcMinh Phạm VănCang Huỳnh Trung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-012026-08-01303374410.54928/vjop.v30i3.228ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NINH THUẬN
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/225
<p><strong>Mục tiêu</strong>: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số nguyên nhân SHH ở trẻ sơ sinh; (2) Tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và nguyên nhân với mức độ SHH. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 trẻ sơ sinh ≤ 7 ngày tuổi được chẩn đoán SHH theo tiêu chuẩn WHO 2003, điều trị tại khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận từ 5/2019 đến 5/2020. <strong>Kết quả</strong>: Triệu chứng tím trung tâm 78,0%, rút lõm lồng ngực 53,2%, thở nhanh 67,9%. Mức độ SHH: nặng 23,9%, trung bình 56,9%, nhẹ 19,3%. Nguyên nhân hàng đầu là bệnh màng trong (33,0%), viêm phổi sơ sinh (32,1%), cơn khó thở nhanh thoáng qua (15,6%) và viêm phổi hít phân su (7,3%). Phân tích đơn biến cho thấy 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với SHH mức độ nặng: ngạt khi sinh (OR=43,33), địa dư nông thôn (OR=12,05), tuổi thai <32 tuần (OR=5,07), cân nặng <1500g (OR=4,80) và suy thai (OR=3,88). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định 3 yếu tố độc lập: ngạt khi sinh (aOR=60,85; 95%CI: 9,27-399,52; p<0,001), địa dư nông thôn (aOR=19,61; 95%CI: 1,59-241,23; p=0,020) và cân nặng <1500g (aOR=10,25; 95%CI: 1,75-60,07; p=0,010). <strong>Kết luận</strong>: Bệnh màng trong và viêm phổi sơ sinh là hai nguyên nhân hàng đầu gây SHH ở trẻ sơ sinh sớm tại địa phương. Ngạt khi sinh, đẻ non <32 tuần, cân nặng rất thấp và suy thai là những yếu tố liên quan chính liên quan đến mức độ SHH nặng cần được dự phòng và xử trí sớm.</p>Chương Lê VũAnh Nguyễn Thị Ngọc Tuấn Trần TháiViên Lê Thị KimYên Hoàng Thị Thủy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-012026-08-01303455310.54928/vjop.v30i3.225ĐẶC ĐIỂM RUNG GIẬT NHÃN CẦU LIÊN QUAN ĐẾN PHẢN XẠ TIỀN ĐÌNH - MẮT TRÊN ĐỐI TƯỢNG SAU NHIỄM COVID-19
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/207
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả kết quả các kiểm tra vận nhãn bằng kính VNG ở người trẻ sau nhiễm COVID-19 và so sánh với nhóm chưa từng nhiễm COVID-19. <strong>Đối tượng: </strong>92 tình nguyện viên bao gồm cả các người bệnh đã từng nhiễm COVID-19 và những người chưa nhiễm COVID-19 được xác định trong các đợt dịch bằng phương pháp PCR hoặc mẫu test nhanh kháng nguyên ít nhất 3 lần. <strong>Phương pháp:</strong> Mô tả cắt ngang, tiến cứu. <strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ bắt gặp triệu chứng chóng mặt trong thời kỳ nhiễm COVID-19 là 66,7%. Biểu hiện chóng mặt sau nhiễm COVID-19 là 2,8%. Các kiểm tra VNG: gaze center, gaze horizontal, gaze vertical, VVOR vertical, VVOR horizontal, VORS vertical, VORS horizontal, skew deviation, saccade peak velocity, saccade accuracy và saccade latency chưa cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm người bệnh đã từng nhiễm COVID-19 và nhóm chưa từng nhiễm COVID-19. <strong>Kết luận: </strong>Triệu chứng chóng mặt xuất hiện với tỷ lệ cao trong thời kỳ nhiễm COVID-19. Biểu hiện chóng mặt sau nhiễm COVID-19 rất ít gặp ở người trẻ. Chưa phát hiện sự khác biệt về kết quả kiểm tra Oculomotor bằng kính VNG giữa nhóm người bệnh đã từng nhiễm COVID-19 và nhóm chưa từng nhiễm COVID-19.</p>Thân Đức LươngNguyễn Thị Thu NgaĐỗ Thanh TuấnTrần Hoàng HàLê Đình Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-09-022026-09-02303546010.54928/vjop.v30i3.207NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEIN, TÌNH TRẠNG HẸP ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/560
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Khảo sát nồng độ Homocystein và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2.<strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích trên 113 đối tượng đái tháo đường típ 2 từ 18 tuổi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.<strong> Kết quả: </strong>40,7% bệnh nhân hẹp động mạch cảnh, đa số mức độ nhẹ (30,1%). Nhóm ≥ 60 tuổi và mắc đái tháo đường ≥ 10 năm có tỷ lệ hẹp động mạch cảnh cao hơn (p= 0,02 và p= 0,004). 18,6% bệnh nhân tăng Homocystein, trung bình 8,88 ± 4,50 μmol/L. Nhóm ≥ 60 tuổi, mắc đái tháo đường ≥ 10 năm và glucose máu lúc đói ≥ 7,2 mmol/L có tỷ lệ tăng nồng độ Homocystein cao hơn (p= 0,015, p< 0,001 và p= 0,013). Nhóm tăng Homocystein có nguy cơ hẹp động mạch cảnh gấp 3,75 lần (KTC 95%: 1,38-10,23, p= 0,007). <strong>Kết luận: </strong>40,7% bệnh nhân hẹp động mạch cảnh và 18,6% có tăng Homocystein. Nhóm ≥ 60 tuổi và mắc đái tháo đường ≥ 10 năm có tỷ lệ hẹp động mạch cảnh cao hơn. Nhóm ≥ 60 tuổi, mắc đái tháo đường ≥ 10 năm và glucose máu lúc đói ≥ 7,2 mmol/L có tỷ lệ tăng nồng độ Homocystein cao hơn.</p>Toàn Phan Khánh Thành Trung Lê Trần Hạnh Dung Nguyễn Ngọc Phương Thảo Lê Thái Trúc Anh Lê Thái Thùy Trân Đoàn Thị Phạm Thị Ngọc Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-082026-08-08303616910.54928/vjop.v30i3.560MỐI LIÊN QUAN GIỮA PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI VÀ CÁC CHỈ SỐ DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN SUY TIM MẠN
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/232
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát mối liên quan giữa phân suất tống máu thất trái (LVEF) và các chỉ số dinh dưỡng gồm Prognostic Nutritional Index (PNI), Geriatric Nutritional Risk Index (GNRI) và Controlling Nutritional Status (CONUT) ở bệnh nhân suy tim mạn. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu quan sát trên 733 bệnh nhân suy tim mạn điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 01/2023 đến tháng 03/2024. <strong>Kết quả: </strong>Trong 733 bệnh nhân, có 602 bệnh nhân HFrEF (82,1%), 81 bệnh nhân HFmrEF (11,1%) và 50 bệnh nhân HFpEF (6,8%). Bệnh nhân có EF giảm có albumin, PNI và GNRI thấp hơn, điểm CONUT cao hơn; BMI và vòng eo khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm EF. Trong hồi quy tuyến tính đa biến, PNI liên quan thuận với LVEF (β = 0,74; KTC 95%: 0,71-0,77; p < 0,001), GNRI tương quan thuận với LVEF (β = 0,57; KTC 95%: 0,53-0,60; p < 0,001), trong khi CONUT tương quan nghịch với LVEF (β = -1,08; KTC 95%: -1,41 đến -0,76; p < 0,001). <strong>Kết luận: </strong>Ở bệnh nhân suy tim mạn, LVEF có liên quan các chỉ số dinh dưỡng. PNI và GNRI cao hơn với chức năng tâm thu thất trái tốt hơn, trong khi điểm CONUT cao hơn liên quan với LVEF thấp hơn.</p>Dương Ngọc Thanh TrúcHuỳnh Lê Trọng TườngLưu Khánh Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-102026-08-10303707710.54928/vjop.v30i3.232ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM RPR, TPHA Ở NAM GIỚI MẮC GIANG MAI TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ CẦN THƠ
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/217
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát đặc điểm lâm sàng và kết quả xét nghiệm RPR, TPHA ở bệnh nhân nam mắc giang mai. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 43 bệnh nhân nam mắc giang mai khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ. <strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi 18-35 chiếm 76,7%, 81,4% độc thân, 60,5% có trình độ học vấn cấp 3. Giang mai kỳ II chiếm 60,5%, 46,5% không có tổn thương da niêm và 30,2% ban giang mai dạng dát. Quan hệ hậu môn chiếm 79,1%, 65,1% không sử dụng bao cao su. 14,0% bệnh nhân đồng mắc HIV. RPR dương tính 1/32 chiếm 23,3%, TPHA dương tính 1/1280 chiếm 67,4%. <strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân nam mắc giang mai chủ yếu ở độ tuổi 18-35, độc thân, trình độ học vấn trung học phổ thông. Đa số là giang mai kỳ II, ban dạng dát, hành vi tình dục nguy cơ cao (quan hệ hậu môn, không dùng bao cao su và có nhiều bạn tình). Xét nghiệm huyết thanh học RPR và TPHA có hiệu giá cao.</p>Nguyễn Hoàng Thảo NguyênHuỳnh Văn BáTừ Tuyết Tâm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-102026-08-10303788510.54928/vjop.v30i3.217ĐIỆN DI ION BẰNG DÒNG ĐIỆN MỘT CHIỀU TRONG XỬ TRÍ THOÁT MẠCH CANXI: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG VÀ TỔNG QUAN Y VĂN
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/191
<p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá tính khả thi bước đầu trên lâm sàng và đề xuất giả thuyết về cơ chế tác động của kỹ thuật điện di ion bằng dòng điện một chiều trong hỗ trợ xử trí thoát mạch ion canxi (Ca<sup>2+</sup>). <strong>Đối tượng và Phương pháp:</strong> Báo cáo loạt ca lâm sàng gồm 02 bệnh nhân thoát mạch dung dịch calcium chloride (CaCl<sub>2</sub>) 10% được điều trị phối hợp điện di ion. Nghiên cứu kết hợp tổng quan tường thuật 14 tài liệu tham khảo về cơ chế bệnh sinh và các chiến lược xử trí thoát mạch chất gây hoại tử. <strong>Kết quả:</strong> Ở ca bệnh can thiệp sớm (4 giờ sau tai biến), tổn thương độ 2 (theo INS) có cải thiện triệu chứng và hồi phục hoàn toàn sau 10 buổi điều trị. Ở ca bệnh đến muộn (40 giờ) với tổn thương độ 4, ghi nhận có cải thiện triệu chứng ban đầu như giảm đau và giảm phù nề, nhưng không ngăn được tiến triển hoại tử, bệnh nhân sau đó vẫn cần can thiệp cắt lọc ngoại khoa. Qua tổng quan tường thuật, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết điện di ion có thể tạo ra lực đẩy tĩnh điện (điện di ngược) và dòng chảy điện thẩm, từ đó có tiềm năng hỗ trợ dịch chuyển Ca<sup>2+</sup> và dẫn lưu dịch mô kẽ. <strong>Kết luận:</strong> Điện di ion bằng dòng điện một chiều là một giả thuyết điều trị có tính khả thi, bước đầu cho thấy độ an toàn. Phương pháp này có thể được cân nhắc như một biện pháp vật lý hỗ trợ kết hợp trong xử trí thoát mạch Ca<sup>2+</sup>, đặc biệt ở giai đoạn sớm. Cần thêm các nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu lớn hơn để chứng minh rõ ràng cơ chế trích xuất ion và hiệu quả độc lập của phương pháp.</p> <p> </p>Tuấn Nguyễn ThanhThúy Bùi Thị HồngThắng Nguyễn ViếtThắng Nguyễn AnhOanh Phan Thị LâmKiều Dương ThịNguyệt Nguyễn ÁnhDiệu Phạm Thị ThúyHằng Phạm Thị LêChi Nguyễn Thị Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-162026-08-16303869510.54928/vjop.v30i3.191KẾT QUẢ PHẪU THUẬT LÀM DÀI THÂN RĂNG KẾT HỢP PHỤC HÌNH Ở RĂNG CỐI LỚN MẤT CHẤT DƯỚI NƯỚU TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/218
<p>Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kết quả lâm sàng của phẫu thuật làm dài thân răng kết hợp phục hình ở răng cối lớn mất chất dưới nướu. Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc, không nhóm chứng, phân tích 34 răng cối lớn ở 34 bệnh nhân thuộc đoàn hệ nghiên cứu tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2021-2023. Công bố trước từ đoàn hệ nguồn chỉ trình bày đặc điểm lâm sàng và CBCT trước can thiệp; bài báo hiện tại tập trung vào các kết cục nha chu, phẫu thuật và phục hình sau điều trị. Dữ liệu theo dõi được rà soát và hoàn thiện đến tháng 06/2026, không tuyển thêm người tham gia mới. Các chỉ số nha chu được đánh giá trước phẫu thuật, sau 1 tuần và sau 6 tháng; kết quả phục hình được đánh giá ngay sau gắn và sau 2 tháng. Nữ chiếm 58,8%, nhóm tuổi 18-30 chiếm 64,7%, răng cối lớn hàm dưới chiếm 88,2% và sâu răng là nguyên nhân mất chất chủ yếu (82,4%). Sau 6 tháng, chỉ số nướu, chỉ số mảng bám và độ sâu túi nha chu giảm có ý nghĩa thống kê; bề rộng nướu sừng hóa giảm nhưng vẫn duy trì trung bình 4,18 ± 0,97 mm; khoảng bám dính trên mào xương không thay đổi có ý nghĩa thống kê (p=0,280). Có 32/34 trường hợp (94,1%) đạt kết quả phẫu thuật thành công theo tiêu chí lâm sàng định trước. Phục hình toàn sứ chiếm 73,5%; khớp cắn phù hợp và độ khít sát bờ phục hình ngay sau gắn lần lượt đạt 97,1% và 94,1%. Sau 2 tháng, 91,2% trường hợp ăn nhai tốt và 88,2% bệnh nhân hài lòng ở mức tốt. Phẫu thuật làm dài thân răng kết hợp phục hình cho kết quả lâm sàng ngắn hạn khả quan ở các răng cối lớn được lựa chọn phù hợp; cần theo dõi dài hạn để đánh giá độ ổn định của mô nha chu và phục hình.</p>Trương Nhựt KhuêLê Nguyễn Thùy DươngTrần Thị Diễm TrangQuách Nhã QuyênTrần Huỳnh Trung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-222026-08-223039610310.54928/vjop.v30i3.218ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TÌNH DỤC VÀ CHỨC NĂNG TÌNH DỤC Ở NAM GIỚI TUỔI 50-69
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/621
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Hoạt động tình dục và chức năng tình dục ở nam giới có xu hướng giảm dần theo tuổi, các nghiên cứu tại bệnh viện ghi nhận tỉ lệ rối loạn chức năng tình dục ở nam giới lứa tuổi này khá cao, tuy nhiên dữ liệu về mức độ còn hoạt động tình dục và chức năng tình dục ở nam giới Việt Nam 50-69 tuổi trong cộng đồng còn hạn chế. <strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỉ lệ còn hoạt động tình dục và chức năng tình dục ở nam giới 50-69 tuổi trong cộng đồng. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: mô tả cắt ngang trên 105 nam giới 50-69 tuổi, tham gia chương trình khám sức khỏe cộng đồng tại phường Nghĩa Đô, Hà Nội. Hoạt động tình dục được xác định dựa vào còn thực hiện giao hợp, hành vi thân mật hay thủ dâm; chức năng tình dục được nghiên cứu trên các khía cạnh: ham muốn, cương dương, xuất tinh, cực khoái, thỏa mãn thông qua thang điểm IIEF-15 và PEDT ở nhóm còn giao hợp. <strong>Kết quả</strong>: 90,47% đối tượng còn hoạt động tình dục (89,5% còn giao hợp, 79,0% còn hành vi thân mật, 3,8% có thủ dâm). Tỉ lệ vẫn có ham muốn, cực khoái và thỏa mãn giao hợp ở tần suất thường xuyên lần lượt là 54,2%, 78,7% và 76,6%; mức độ ham muốn từ trung bình trở lên là 77,6%. Rối loạn cương dương 54,3% nhưng chủ yếu là mức độ nhẹ (40,4%). Tỉ lệ xuất tinh sớm thấp (6,4%); tỉ lệ mất ham muốn, không đạt đc cực khoái và không thỏa mãn từ 1,1-2,1%. Tuổi từ 60 trở lên và đái tháo đường liên quan độc lập với giảm ham muốn tình dục. <strong>Kết luận</strong>: Nam giới 50-69 tuổi tại thành thị Hà Nội phần lớn vẫn còn hoạt động tình dục và duy trì chức năng tình dục. Rối loạn cương dương là rối loạn thường gặp nhất chủ yếu mức độ nhẹ, xuất tinh sớm và mất hoàn toàn ham muốn, cực khoái, thỏa mãn ít gặp, Tuổi và đái tháo đường là các yếu tố liên quan độc lập với giảm ham muốn tình dục.</p>Hoàng Thái DươngNguyễn Thị Thanh Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-242026-08-2430310411410.54928/vjop.v30i3.621KHẢO SÁT MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐA HÌNH GEN ANRIL VỚI HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH TẠI CẦN THƠ
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/619
<p><strong>Mục tiêu nghiên cứu: </strong>So sánh sự phân bố và xác định mối liên quan độc lập của đa hình rs1333040, rs1333049 và rs2383207 gen <em>ANRIL</em> trên bệnh nhân hội chứng vành mạn.<strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu bệnh-chứng trên 213 đối tượng được chụp động mạch vành qua da tại 5 bệnh viện ở thành phố Cần Thơ giai đoạn 2025-2026, gồm 106 bệnh nhân hẹp ≥50% lòng mạch (nhóm bệnh) và 107 đối tượng hẹp <30% (nhóm chứng). Kiểu gen được xác định bằng giải trình tự Sanger. Ba mô hình hồi quy logistic đa biến, mỗi mô hình cho một đa hình, được xây dựng với biến phụ thuộc là hội chứng vành mạn.<strong> Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 65,84 ± 9,70 so với nhóm chứng là 61,92 ± 10,20 tuổi, tỷ lệ ít vận động thể lực (70,8% so với 43,9%; p < 0,001) và tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch (21,7% so với 10,3%; p = 0,023) cao hơn. Tần suất kiểu gen rs1333040 lần lượt là TT 46,2%, CT 47,6% và CC 6,1%; rs1333049 gồm GG 12,7%, GC 47,6% và CC 39,6%; rs2383207 gồm GG 46,5%, GA 45,1% và AA 8,5%; cả ba đa hình đều tuân theo cân bằng Hardy-Weinberg và không khác biệt giữa hai nhóm (p > 0,05). Trong cả ba mô hình đa biến, không kiểu gen nào liên quan độc lập với hội chứng vành mạn. Ít vận động thể lực liên quan độc lập với hội chứng động mạch vành mạn ở cả ba mô hình, với OR lần lượt là 3,31 (KTC 95%: 2,13-5,15; p < 0,001), 3,27 (KTC 95%: 2,10-5,10; p < 0,001) và 3,36 (KTC 95%: 2,16-5,23; p < 0,001). Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch đạt ý nghĩa thống kê ở mô hình hiệu chỉnh cho cả ba SNPs (p < 0,05).<strong> Kết luận: </strong>Nghiên cứu mô tả được tần suất kiểu gen và alen của ba đa hình rs1333040, rs1333049 và rs2383207 gen <em>ANRIL</em> trên bệnh nhân hội chứng vành mạn và dân số Việt Nam khỏe mạnh. Hiện tại, chưa ghi nhận sự liên quan độc lập giữa cả ba đa hình gen với hội chứng động mạch vành mạn. Ít vận động thể lực và tiền sử gia đình mắc bệnh lý tim mạch sau khi đưa vào mô hình hồi qui đa biến cho thấy liên quan độc lập đến hội chứng bệnh mạch vành mạn.</p>An Trần ViếtPhương Nguyễn MinhKhuê Nguyễn DuyNguyệt Nguyễn Minh Cường Lê VănTriệu Trần VănHoàng Toàn Ngô
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-08-272026-08-2730311512210.54928/vjop.v30i3.619HIỆU QUẢ, ĐỘ BỀN VÀ TRẢI NGHIỆM CỦA BỆNH NHÂN KHI SỬ DỤNG ÁO NẸP CHỈNH HÌNH CHẾ TẠO BẰNG CÔNG NGHỆ IN 3D TRONG ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG - ĐIỀU TRỊ BỆNH NGHỀ NGHIỆP
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/620
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Áo nẹp chỉnh hình là biện pháp bảo tồn có bằng chứng tốt nhất trong vẹo cột sống vô căn, song dữ liệu theo dõi dọc về áo nẹp in 3D tại Việt Nam còn thiếu. <strong>Mục tiêu: </strong>Xác định mức cải thiện góc Cobb, độ bền vật liệu và trải nghiệm của bệnh nhân sau 12 tháng mang áo nẹp in 3D. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Can thiệp lâm sàng một nhóm so sánh trước - sau trên 30 bệnh nhân còn tiềm năng tăng trưởng (Risser dưới 5), góc Cobb 25-60°, tại Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, 2024-2026. Góc Cobb đo trên X-quang EOS trước và sau 12 tháng; trải nghiệm khảo sát bằng bộ câu hỏi cấu trúc và SRS-22r; cơ lý tính vật liệu kiểm định tại QUATEST 3. <strong>Kết quả:</strong> Cả 30 bệnh nhân hoàn tất theo dõi. Sau 12 tháng, góc Cobb đường cong chính giảm từ 34,8 ± 7,7° xuống 26,0 ± 8,7° (p < 0,001); trong 20 trường hợp thay đổi phân loại mức độ vẹo, cả 20 đều theo hướng cải thiện và không trường hợp nào tiến triển từ 5° trở lên. Tỷ lệ nắn chỉnh tương đối đạt 29,0 ± 13,1% ở nhóm Cobb 25-40° so với 15,3 ± 10,0% ở nhóm trên 40° (p = 0,029). Độ bền kéo ba mẫu đạt 34,43 ± 0,35 MPa, vượt ngưỡng 16 MPa, nhưng độ cứng Shore D bằng 77 nằm ngoài khoảng tiêu chí 50-60 đặt ra trước. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là đau tại vị trí tì đè (32,0%), không có nhiễm trùng da hay teo cơ; tổng điểm SRS-22r đạt 3,7 ± 0,6. Trong bốn biến được khảo sát, số giờ mang nẹp thực tế mỗi ngày là biến duy nhất tương quan thuận với mức cải thiện góc Cobb (rho = 0,55; p = 0,002). <strong>Kết luận</strong><strong>:</strong> Áo nẹp in 3D cho hiệu quả nắn chỉnh bước đầu khả quan; bộ tiêu chí cơ lý tính vật liệu cần được rà soát lại.</p>Nam Nguyễn HoàiHoàng Phan MinhThanh Đinh QuangChiêu Lê Phan HoàngNgọc Lê AnhLan Đinh ThịNguyên Hà NgọcHiền Nguyễn ThanhĐạt Ngô Trần TuấnHậu Phan Hồ CôngHuy Nguyễn MinhTòng Lý KhắcThụ Trần NhấtQuyên Lê Thị HạHà Nguyễn Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-09-052026-09-0530312313410.54928/vjop.v30i3.620