Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp
<p>Tạp chí Sinh lý học Việt Nam là tạp chí khoa học chuyên ngành Sinh lý học. Tạp chí đăng tải các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo tổng quan,các thông tin khoa học mới, các thông báo khoa học thuộc chuyên ngành Sinh lý học và các chuyên ngành có liên quan như Sinh lý học Y học, Sinh lý học Người và Động vật, sinh lý học nghề nghiệp, sinh y học tái tạo, sinh lý – dược lý, sinh lý học thể dục thể thao, sinh lý học xã hội, y học chức năng và các lĩnh vực thuộc về thăm dò chức năng.</p>Hội Sinh lý học Việt Namvi-VNTạp chí Sinh lý học Việt Nam1859-2376ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH HẸP HOẶC TẮC ĐỘNG MẠCH LỚN NỘI SỌ Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ S.I.S CẦN THƠ 2024–2026
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/615
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh hẹp hoặc tắc động mạch lớn nội sọ trên MRI 3 Tesla và DSA ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 194 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não có hẹp hoặc tắc động mạch lớn nội sọ. Tất cả 194 bệnh nhân đều được đánh giá bằng MRI/MRA 3 Tesla và DSA trong quá trình thăm khám lâm sàng. Nghiên cứu mang tính mô tả và không được thiết kế để đánh giá độ chính xác hay độ tương hợp giữa MRI và DSA. <strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nam:nữ xấp xỉ 2:1. Nói khó, liệt nửa người và liệt VII trung ương là các biểu hiện thần kinh trội thường gặp nhất. Chỉ 18,0% bệnh nhân đến viện trong 3 giờ đầu. Có 92,8% bệnh nhân chỉ có một vị trí tổn thương mạch nội sọ. Trong các tổn thương chỉ số được ghi nhận trên DSA, đoạn M1–M2 của động mạch não giữa thường gặp nhất (58,8%). Hẹp nặng 70–99% chiếm 25,3% và tắc hoàn toàn chiếm 74,7%. <strong>Kết luận</strong>: Trong nhóm bệnh nhân được chọn tại trung tâm đột quỵ và can thiệp nội mạch chuyên sâu, phần lớn bệnh nhân có một tổn thương mạch nội sọ; đoạn M1–M2 là vị trí tổn thương chỉ số thường gặp nhất và tắc hoàn toàn gặp nhiều hơn hẹp nặng.</p>Tran Tran NguyenChi Cuong TranLuu Giang NguyenMinh Thang LeDao Nhat Huy NguyenNgoc-Nga Phạm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-062026-10-0630410.54928/vjop.v30i4.615Panax bipinnaitifidus SEEM. ROOT EXTRACT INHIBITS HEPG2 CELL PROLIFERATION ASSOCIATED WITH OXIDATIVE STRESS AND G1 CELL CYCLE ARREST
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/628
<p><strong>Background: </strong>Hepatocellular carcinoma is the most common type of liver cancer and represents a significant global health challenge. Although no universally accepted standard therapy is currently available, the use of natural products in cancer prevention and treatment has gained increasing attention.</p> <p><strong>Objectives: </strong>This study aimed to evaluate the anti-proliferative effects of <em>Panax bipinatifidus</em> Seem. total saponin extract (PBE) on human hepatoma HepG2 cells, with a focus on mitochondrial function, oxidative stress, calcium homeostasis, and cell cycle regulation.</p> <p><strong>Subjects and Methods: </strong>HepG2 cells were treated with various concentrations of PBE for 48 hours. Cell viability, intracellular reactive oxygen species (ROS), cytosolic calcium levels (Ca²⁺), mitochondrial cardiolipin content, and cell cycle distribution were assessed using CCK-8, CM-H₂DCFDA, Fluo-4 AM, NAO staining, and PI-based flow cytometry, respectively.<strong> Results: </strong>PBE moderately inhibited HepG2 cell proliferation with an IC₅₀ of 33.37 ± 1.30 µg/mL. Treatment with PBE significantly increased intracellular ROS and Ca²⁺ levels compared to control (p <0.05), and markedly reduced mitochondrial cardiolipin content (83.18 ± 4.69% of control, p < 0.05). Moreover, flow cytometry revealed a significant accumulation of cells in the G<sub>1</sub> phase, indicating G<sub>1</sub> cell cycle arrest as a potential mechanism of growth inhibition.</p> <p><strong>Conclusions: </strong>Collectively, these findings suggest that PBE exerts anti-proliferative effects on hepatocellular carcinoma cells by inducing oxidative and calcium stress, disrupting mitochondrial membrane integrity, and arresting the cell cycle at the G<sub>1</sub> phase.</p>Thu Vũ Thị Hải Yến Ngô ThịTiên Trịnh ThủyBích Phạm Thị
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-222026-10-2230410.54928/vjop.v30i4.628AXIT SALVIANOLIC B LÀM GIẢM STRESS OXY HÓA VÀ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TY THỂ DO ĐỘC TÍNH GLUCOSE–LIPID GÂY RA TRONG TẾ BÀO GAN AML12 THÔNG QUA ĐIỀU HÒA TÍN HIỆU CRBN/AMPK
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/652
<p>Axit salvianolic B (SalB) là một hợp chất phenolic tan trong nước, được ghi nhận có đặc tính chống oxy hóa và điều hòa chuyển hóa. Chúng tôi đã nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan của hợp chất này trên tế bào gan AML12 được xử lý bằng glucose và axit palmitic nồng độ cao (HG–PA), một mô hình <em>in vitro</em> mô phỏng bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu liên quan đến đái tháo đường. Kết quả cho thấy SalB thể hiện độc tính tế bào không đáng kể và làm tăng đáng kể khả năng sống của tế bào sau khi tiếp xúc với HG–PA. SalB làm giảm các gốc oxy hóa hoạt động (ROS) trong ty thể và sự tích tụ 4-hydroxynonenal, cho thấy khả năng làm giảm stress oxy hóa và quá trình peroxy hóa lipid. SalB cũng phục hồi cường độ huỳnh quang MitoTracker và hàm lượng ATP nội bào, phù hợp với sự cải thiện chức năng ty thể và chuyển hóa năng lượng của tế bào. HG–PA làm tăng biểu hiện cereblon (CRBN) và ức chế quá trình phosphoryl hóa AMPKα, trong khi SalB đảo ngược một phần cả hai thay đổi này. Những phát hiện trên cho thấy SalB bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương do độc tính glucose–lipid bằng cách hạn chế tổn thương oxy hóa, duy trì chức năng ty thể và khôi phục tín hiệu AMPK liên quan đến CRBN.</p>Hải Yến Ngô ThịPhạm Trọng KháVu Thi ThuPham Thi BichThị Thu Phương LưuThị Thường Bùi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-09-172026-09-17304475510.54928/vjop.v30i4.652Đặc điểm lâm sàng, thời điểm đến bệnh viện và triệu chứng lo âu ở bệnh nhân nhập viện do Zona
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/653
<p><strong>Tổng</strong><strong> quan</strong><strong>:</strong> Zona là bệnh cấp tính gây đau, trong đó việc đánh giá và điều trị kịp thời có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, dữ liệu về thời điểm đến bệnh viện, chăm sóc trước nhập viện, đau và triệu chứng lo âu ở bệnh nhân zona điều trị nội trú tại Việt Nam còn hạn chế. <strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, thời điểm đến bệnh viện và triệu chứng lo âu khi nhập viện, đồng thời khảo sát một số yếu tố liên quan đến thời điểm nhập viện và điểm GAD-7. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 40 bệnh nhân zona điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Cần Thơ từ tháng 7/2025 đến tháng 4/2026. Đặc điểm lâm sàng, mức độ đau theo thang điểm số 0–10 và triệu chứng lo âu theo GAD-7 được đánh giá trước khi điều trị tại bệnh viện. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là 61,90 ± 13,47 tuổi, nữ chiếm 70,0%. Có 32 bệnh nhân (80,0%, KTC 95%: 65,2–89,5%) nhập viện sau hơn 3 ngày kể từ khi khởi phát phát ban. Đau gặp ở 90,0% bệnh nhân, với điểm đau trung bình 4,95 ± 2,14. Điểm GAD-7 trung bình là 6,68 ± 3,35, trong đó 12,5% có GAD-7 ≥10 và 72,5% có GAD-7 ≥5. Chăm sóc trước nhập viện khác biệt theo thời điểm nhập viện (p<0,001). Điểm GAD-7 cao hơn ở bệnh nhân dưới 60 tuổi và những bệnh nhân nhập viện trong vòng 3 ngày. Không ghi nhận tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm đau và GAD-7. <strong>Kết luận:</strong> Phần lớn bệnh nhân zona nhập viện sau hơn 3 ngày kể từ khi khởi phát phát ban. Đau thường gặp, trong khi triệu chứng lo âu mức độ từ trung bình trở lên chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Các mối liên quan ghi nhận trong phân tích thăm dò cần được xác nhận bằng các nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn.</p>Hong Khoa TrangVăn Thống NguyễnThị Kim Loan Võ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-102026-10-1030410.54928/vjop.v30i4.653Mô mỡ, đái tháo đường type 2 và gan trong khung bệnh lý tim mạch – thận – chuyển hoá: Từ CKM đến CRHM, CARDIAL-MS và MALCKS
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/664
<p>Hội chứng tim mạch-thận-chuyển hóa (CKM) do Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) đề xuất năm 2023 đã thiết lập khung tích hợp mô tả tương tác giữa rối loạn chuyển hóa, bệnh thận mạn (CKD) và bệnh tim mạch (CVD). Từ đầu năm 2025 đến đầu năm 2026, ba khung khái niệm mở rộng lần lượt xuất hiện: hội chứng tim mạch-thận-gan-chuyển hóa (CRHM), hội chứng tim-thận-đái tháo đường-gan-chuyển hóa (CARDIAL-MS) và hội chứng gan-tim mạch-thận liên quan chuyển hóa (MALCKS). Cả ba cùng phản ánh nhu cầu làm rõ vai trò của gan, rối loạn chức năng mô mỡ, mỡ lạc chỗ và đái tháo đường type 2 (T2D) trong bệnh lý đa cơ quan liên quan chuyển hóa. Lấy CKM làm nền tảng, bài tổng quan phân tích cơ sở sinh lý và sinh lý bệnh của ba mô hình hậu-CKM, tập trung vào rối loạn chức năng mô mỡ, đề kháng insulin, T2D, bệnh gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa (MASLD) và tương tác gan-tim-thận. CRHM chủ yếu làm rõ thành phần gan; CARDIAL-MS nhấn mạnh mô mỡ, mỡ lạc chỗ, đái tháo đường và MASLD trong một hệ thống phân giai đoạn; còn MALCKS lấy trục MASLD-chuyển hóa làm điểm khởi đầu để liên kết tổn thương tim và thận. Tuy nhiên, khác với CKM vốn đã có hệ thống phân giai đoạn và hướng dẫn liên hiệp hội, cả ba vẫn là khung đề xuất, chưa được kiểm chứng đầy đủ về định nghĩa vận hành, giá trị tiên lượng gia tăng hay khả năng thay đổi điều trị. Đặc biệt, hướng dẫn CKM năm 2026 đã tích hợp đánh giá MASLD và xơ hóa gan, làm thay đổi mốc so sánh cho các mô hình hậu-CKM. Do đó, giá trị của các thuật ngữ này phụ thuộc vào khả năng nhận diện kiểu hình sinh học có thể đo lường, dự đoán và can thiệp hiệu quả hơn CKM hiện hành, chứ không phải số cơ quan trong tên gọi.</p>Trọng Nhân LêLinh Ly LươngĐức Anh Trần VũVăn Quý NguyễnAn Trinh Võ Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-192026-10-19304566810.54928/vjop.v30i4.664Kết quả sớm phẫu thuật nội soi điều trị tổn thương ruột non do chấn thương bụng kín tại Bệnh viện Quân y 103
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/666
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả sớm và khảo sát một số yếu tố liên quan đến kết quả sớm sau phẫu thuật nội soi điều trị tổn thương ruột non do chấn thương bụng kín tại Bệnh viện Quân y 103. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh, sử dụng số liệu hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 40 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi điều trị tổn thương ruột non do chấn thương bụng kín tại Trung tâm Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2026. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình là 48,87 ± 13,80 tuổi, nam giới chiếm 85,0%. Tai nạn giao thông chiếm 75,0%. CLVT phát hiện khí tự do ổ bụng ở 80,0% và dịch tự do ở 67,5% bệnh nhân. Tổn thương hỗng tràng chiếm 87,5%. Khâu trực tiếp được thực hiện ở 75,0%, cắt đoạn nối ruột ở 25,0%. Thời gian phẫu thuật trung vị là 90 phút. Thời gian trung tiện sau mổ trung vị là 3 ngày và thời gian nằm viện 9,5 ngày. Nhiễm trùng vết mổ gặp ở 10,0%; một trường hợp (2,5%) ngừng tim kèm suy đa tạng. Kết quả sớm được phân loại tốt ở 87,5%, khá ở 10,0% và kém ở 2,5%. Nhóm kết quả chưa tốt có thời gian từ tai nạn đến nhập viện và đến phẫu thuật dài hơn, đồng thời thể tích dịch ổ bụng lớn hơn nhóm kết quả tốt (p<0,05). <strong>Kết luận:</strong> Phẫu thuật nội soi cho kết quả sớm thuận lợi ở phần lớn bệnh nhân tổn thương ruột non do chấn thương bụng kín được lựa chọn phù hợp trong nghiên cứu này.</p>Minh Tuan NguyenVăn Tiệp NguyễnThanh Bình Nguyễn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-162026-10-1630410.54928/vjop.v30i4.666Đặc điểm và diễn biến sau một năm kiểu hình PRISm ở công nhân xây dựng qua hô hấp ký
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/671
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định tỷ lệ kiểu hình hô hấp ký suy giảm với tỷ số FEV₁/FVC được bảo tồn (preserved ratio impaired spirometry – PRISm), khảo sát một số yếu tố liên quan và diễn biến kiểu hình PRISm sau 1 năm ở công nhân xây dựng. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu mô tả phân tích trên 196 công nhân xây dựng của hai công ty Unicons và Coteccons, được khám sức khỏe trong hai năm liên tiếp 2021–2022. PRISm được xác định khi FEV₁ < 80% giá trị dự đoán và FEV₁/FVC ≥ LLN. Các thông tin về tuổi, giới tính, hút thuốc lá và kết quả hô hấp ký được thu thập từ hồ sơ bệnh án điện tử. Phân tích số liệu bằng SPSS 20.0, với p<0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. <strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 35,0 ± 7,01 tuổi; nam giới chiếm 85,2% và hút thuốc lá chiếm 42,3%. Tại thời điểm ban đầu, 52/196 (26,5%) đối tượng có ít nhất một bất thường hô hấp ký; PRISm là kiểu hình thường gặp nhất, với 28 trường hợp (14,2%). Trong nhóm PRISm, 24/28 (85,7%) có đồng thời biểu hiện giảm thể tích phổi trên hô hấp ký. Tuổi có liên quan với PRISm (p<0,05), trong khi giới tính và hút thuốc lá chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Sau 1 năm, tỷ lệ PRISm tăng lên 17,3%. Trong 28 trường hợp PRISm ban đầu, 22 (78,6%) duy trì PRISm, 4 (14,3%) trở về bình thường và 2 (7,1%) chuyển sang kiểu hình tắc nghẽn; đồng thời ghi nhận 12 trường hợp mới xuất hiện PRISm. <strong>Kết luận:</strong> PRISm là kiểu hình bất thường hô hấp ký thường gặp ở công nhân xây dựng và có tính chất động trong quá trình theo dõi. Cần các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để làm rõ vai trò của phơi nhiễm nghề nghiệp đối với PRISm.</p>Anh Thu Dang HuynhThành Đạt NguyễnBảo Hân Đoàn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-162026-10-1630410.54928/vjop.v30i4.671Mối liên quan giữa các chỉ số viêm phản ánh ba trục của Hội chứng suy dinh dưỡng – viêm – xơ vữa (MIA) và tình trạng thiếu máu ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/644
<p>Thiếu máu là biến chứng phổ biến ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ, trong đó viêm mạn tính giữ vai trò quan trọng. Hội chứng suy dinh dưỡng – viêm – xơ vữa (MIA) gồm ba trục có thể được phản ánh bằng các chỉ số thay thế từ xét nghiệm thường quy: tỉ số bạch cầu lympho/hs-CRP (LCR), chỉ số dinh dưỡng tiên lượng (PNI) và tỉ số bạch cầu trung tính/HDL-c (NHR). Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa ba chỉ số trên với thiếu máu ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Nghiên cứu cắt ngang trên 116 bệnh nhân lọc máu chu kỳ; thiếu máu mức độ trung bình được định nghĩa khi Hb < 11 g/dL. So sánh hai nhóm, hồi quy tuyến tính và logistic đa biến và phân tích ROC của mô hình phối hợp được thực hiện. Có 61 bệnh nhân (52,6%) thiếu máu. LCR và PNI ở nhóm thiếu máu thấp hơn nhóm không thiếu máu (p < 0,05); khác biệt NHR không có ý nghĩa. Trong hồi quy đa biến, LCR và NHR liên quan độc lập với Hb (p < 0,05) và với tình trạng thiếu máu (p < 0,05), trong khi PNI mất ý nghĩa sau hiệu chỉnh. Mô hình phối hợp ba chỉ số đạt AUC 0,717 (KTC 95%: 0,63–0,81). LCR và NHR là những chỉ số liên quan và nhất quán với tình trạng thiếu máu; PNI ít giá trị độc lập. Mô hình phối hợp đạt khả năng phân biệt chấp nhận được, ủng hộ tiếp cận đa chỉ số khi đánh giá nền viêm của thiếu máu ở bệnh nhân lọc máu.</p>Trọng Nhân LêTrương Trung Tính TrầnLinh Ly LươngMinh Khánh ThànhVăn Tiến TrầnThị Lệ Hương NguyễnThông Tánh Trần
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-192026-10-19304010810.54928/vjop.v30i4.644KHOẢNG TRỐNG GLYCAT HÓA VÀ CHỈ SỐ GLYCAT HÓA HEMOGLOBIN TRONG BỆNH THẬN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2: CƠ SỞ SINH LÝ BỆNH, BẰNG CHỨNG LÂM SÀNG VÀ TRIỂN VỌNG ỨNG DỤNG
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/650
<p><strong>Mục tiêu: </strong>Tổng hợp cơ sở sinh lý bệnh, cách xác định và bằng chứng lâm sàng về khoảng trống glycat hóa (glycation gap - GG) và chỉ số glycat hóa hemoglobin (hemoglobin glycation index - HGI) trong bệnh thận do đái tháo đường típ 2. <strong>Phương pháp: </strong>Tổng quan tường thuật có cấu trúc; tìm tài liệu trên PubMed/MEDLINE, Cochrane Library, Google Scholar cùng trang chính thức của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ và KDIGO đến ngày 31/7/2026, kèm tiêu chí lựa chọn, tiêu chí loại trừ và xếp loại nguy cơ sai lệch cho từng nghiên cứu. <strong>Kết quả: </strong>GG và HGI là các chỉ số phần dư giữa HbA1c đo được với HbA1c dự đoán từ fructosamine hoặc từ glucose. Cả hai phản ánh tổng hợp nhiều nguồn biến thiên sinh học và đo lường chứ không riêng khả năng glycat hóa hemoglobin, đồng thời phụ thuộc phương trình hồi quy của từng quần thể nên không so sánh trực tiếp được giữa các nghiên cứu. Nghiên cứu cắt ngang cho thấy GG hoặc HGI cao liên quan với albumin niệu và bệnh thận hiện mắc. Trên đái tháo đường típ 2, đoàn hệ 5 năm ghi nhận nhóm HGI trung bình năm đầu cao nhất có nguy cơ tiến triển thận tăng 58% (HR 1,58; KTC 95%: 1,01-2,49), trong khi một đoàn hệ 1.050 người bệnh cho thấy quan hệ hình chữ U giữa HGI và bệnh thận mới mắc. Giá trị dự báo tăng thêm ngoài HbA1c, tỷ số albumin/creatinin niệu và mức lọc cầu thận chưa được xác lập đầy đủ. Thiếu máu, thay đổi đời sống hồng cầu, điều trị erythropoietin, giảm albumin máu và protein niệu đều có thể làm sai lệch hai chỉ số. <strong>Kết luận: </strong>GG và HGI có thể hỗ trợ giải thích một giá trị HbA1c không phù hợp với glucose đo trực tiếp. Bằng chứng hiện có chưa đủ để sử dụng hai chỉ số này một cách độc lập trong chẩn đoán, phân tầng nguy cơ hay điều chỉnh điều trị bệnh thận do đái tháo đường.</p>Khoa Trần Đặng ĐăngLiêm Nguyễn ThanhLộc Huỳnh VănPhương Nguyễn ViệtChiêu Trương ThịTường Nguyễn Thị KimThìn Đoàn Kim
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-09-082026-09-0830492310.54928/vjop.v30i4.650Nghiên cứu chỉ số của các đáp ứng muộn ở bệnh nhân có bệnh lý rễ cột sống thắt lưng-cùng
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/637
<p><strong>Tổng quan:</strong> Bệnh lý rễ thần kinh thắt lưng-cùng là hội chứng đau do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh từ L1 đến S5. Chẩn đoán bệnh lý rễ cột sống thắt lưng-cùng thường dựa trên lâm sàng, hình ảnh học và chẩn đoán điện sinh lý. Các đáp ứng muộn như sóng F, phản xạ H là kỹ thuật giúp đánh giá chức năng rễ của các dây thần kinh, có ý nghĩa trong bệnh rễ thắt lưng-cùng. Vì vậy, mục tiêu đề tài là đánh giá mối liên quan của các chỉ số đáp ứng muộn với hình ảnh cột sống thắt lưng-cùng trên cộng hưởng từ. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả, cắt ngang 41 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh lý rễ cột sống thắt lưng – cùng, có hình ảnh chèn ép rễ cột sống thắt lưng cùng trên cộng hưởng từ, được khảo sát điện cơ dẫn truyền, sóng F, phản xạ H tại phòng Điện cơ đồ, Đơn vị Thăm dò chức năng, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 04/2023 đến 12/2023. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân ở trong nhóm tuổi 40-59 tuổi, với tỉ lệ 65,9%. Nguyên nhân hàng đầu gây chèn ép rễ trong nhóm nghiên cứu này là Thoái hóa đĩa đệm với 88,46%; rễ L5 chiếm tỷ lệ cao nhất 40,38% với mức độ chèn ép tỷ lệ cao nhất là độ 3. Các chỉ số sóng Fmax và Fmean có sự khác biệt theo mức độ chèn ép rễ thần kinh trên cộng hưởng từ (p < 0,05). Thời gian tiềm và biên độ sóng H kéo dài và giảm theo mức độ chèn ép trên hình ảnh cộng hưởng từ cột sống thắt lưng-cùng (p < 0,05). <strong>Kết luận:</strong> Các chỉ số đáp ứng muộn là các chỉ số có giá trị trong chẩn đoán bệnh lý chèn ép rễ cột sống thắt lưng-cùng.</p>Thị Hiếu Dung NguyễnThị Tuyết Nhung PhanHữu Hùng TrươngThanh Minh NguyễnĐình Toàn Nguyen
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-10-162026-10-16304243210.54928/vjop.v30i4.637CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH THẦN KINH NGOẠI BIÊN DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/651
<p>Bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường là một nhóm bệnh gồm nhiều thể, thường bị bỏ sót trên lâm sàng trong khi hậu quả để lại khá nặng nề: đau mạn tính, mất cảm giác bảo vệ, loét bàn chân và suy giảm chất lượng sống. Bài tổng quan tường thuật có cấu trúc này trình bày cách phân loại các thể bệnh cùng đặc điểm nhận diện và nguyên tắc xử trí của từng thể, sau đó tập trung cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh đa dây thần kinh cảm giác - vận động đối xứng đoạn xa (distal symmetric polyneuropathy - DSPN) và thể có đau, vốn chiếm phần lớn gánh nặng lâm sàng. Tài liệu được tìm trên PubMed/MEDLINE, Cochrane Library cùng các hướng dẫn chính thức trong nước và quốc tế đến ngày 31/7/2026. Chẩn đoán DSPN trước hết là chẩn đoán lâm sàng, dựa vào bệnh sử kết hợp thăm khám sợi nhỏ, sợi lớn và phản xạ gân gót. Sàng lọc DSPN, xác định mất cảm giác bảo vệ và phân tầng nguy cơ loét bàn chân là ba mục tiêu khác nhau: monofilament 10 g phục vụ mục tiêu thứ hai và có độ nhạy thấp với bệnh giai đoạn sớm nên không dùng để loại trừ DSPN; điện dẫn truyền thần kinh chỉ cần thiết khi biểu hiện không điển hình hoặc khi cần khẳng định chẩn đoán. Về điều trị, kiểm soát đa yếu tố nguy cơ và chăm sóc bàn chân đi song song với việc lựa chọn cá thể hóa gabapentinoid, thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin - norepinephrine hoặc thuốc chống trầm cảm ba vòng, theo nguyên tắc khởi liều thấp, tăng chậm và chỉnh liều theo tuổi cùng chức năng thận. Khi đáp ứng chưa đủ, đổi nhóm cơ chế hoặc phối hợp thuốc hợp lý thường tốt hơn việc tăng liều kéo dài; opioid dùng dài ngày nên tránh. Acid alpha-lipoic và benfotiamine chỉ nên xem là điều trị bổ trợ, vì tổng quan Cochrane năm 2024 cho thấy acid alpha-lipoic có lẽ ít hoặc không cải thiện triệu chứng thần kinh sau sáu tháng. Phát hiện sớm tổn thương sợi nhỏ và các liệu pháp làm thay đổi tiến triển bệnh vẫn là những hướng nghiên cứu còn bỏ ngỏ.</p>Khoa Trần Đặng ĐăngLiem Nguyễn ThanhLộc Huỳnh VănPhương Nguyễn ViệtChiêu Trương ThịTường Nguyễn Thị KimThìn Đoàn Kim
Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-sa/4.0
2026-09-092026-09-09304334610.54928/vjop.v30i4.651