https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/issue/feedTạp chí Sinh lý học Việt Nam2026-01-20T08:37:50+00:00Tạp chí Sinh lý học Việt Namtapchisinhlyhocvn@gmail.comOpen Journal Systems<p>Tạp chí Sinh lý học Việt Nam là tạp chí chuyên ngành Sinh lý học. Tạp chí đăng tải các công trình nghiên cứu, các bài tổng quan, thông báo khoa học thuộc chuyên ngành Sinh lý học và các chuyên ngành có liên quan với Sinh lý học.</p>https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/160NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ STRESS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA2025-12-08T02:25:19+00:00Ngọc Thảo Phạmphamngocthaovmmu@gmail.comTrọng Nghĩa Nguyễndr.nghianguyen@gmail.comHuy Thông NguyễnThongnh@vmmu.edu.vn<p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát mức độ stress ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa. <strong>Phương pháp:</strong> Tổng số 68 bệnh nhân được chẩn đoán có hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP-ATP III được thu thập. Bộ câu hỏi Perceived Stress Scale(PSS)-10 bằng tiếng Việt được sử dụng để đánh giá mức độ stress cảm nhận của bệnh nhân.<strong> Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 56,2 tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện stress với thang điểm PSS-10 > 13 điểm là 32,4%. Tuổi có tương quan nghịch và có ý nghĩa thống kê với thang điểm PSS-10. Điểm PSS-10 cao hơn có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân nữ so với nam. Tương tự, nhóm có bệnh lý tăng huyết áp, nhóm có 5 thành phần rối loạn chuyển hóa cao hơn có ý nghĩa thống kê về điểm PSS-10 so với nhóm không có tăng huyết áp và nhóm có 3 thành phần rối loạn chuyển hóa<strong>. Kết luận: </strong>Tỷ lệ bệnh nhân biểu hiện stress ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa là 32,4%. Tuổi, giới tính, tăng huyết áp, số lượng thành phần chuyển hóa là các yếu tố ảnh hưởng lên tình trạng stress cảm nhận ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa.</p>2026-01-20T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/161NỒNG ĐỘ MỘT SỐ HORMON TRÊN BỆNH NHÂN NỮ GIỚI MẮC THALASSEMIA TRONG ĐỘ TUỔI TIỀN SINH SẢN CÓ QUÁ TẢI SẮT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN2025-11-24T00:51:07+00:00Thế Tùng Nguyễnnguyenthetung@tnmc.edu.vnHoàng Hà Trầntranhoangha.slh@gmail.comPhương Lan Vi Thịlansltn@gmail.comViệt Đức Nguyễnvietducdty@gmail.com<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Bệnh nhân nữ Thalassemia trong độ tuổi tiền sinh sản chịu ảnh hưởng nặng nề của tình trạng quá tải sắt, gây rối loạn nội tiết và ảnh hưởng đến phát triển sinh sản<strong>. Mục tiêu:</strong> Xác định nồng độ một số hormon và mối liên quan giữa nồng độ hormon với tình trạng quá tải sắt. <strong>Phương pháp:</strong> Mô tả cắt ngang, phân tích tiến cứu trên 45 bệnh nhân nữ, độ tuổi từ 12-18 tuổi, điều trị tại Khoa Huyết học, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. <strong>Kết quả:</strong> Nồng độ hormon LH, FSH, Estradiol, Progesteron, Prolactin của đối tượng nghiên cứu tương ứng là: 4,4 ± 2,6 mIU/mL; 6,8 ± 2,9 mIU/mL; 60,5 ± 31,5 pg/ml; 4,6 ± 13,4 ng/ml; 185,9 ± 136,0 mIU/mL. Nồng độ hormon nội tiết sinh dục nữ ở bệnh nhân Thalassemia giảm tương ứng với mức độ quá tải sắt. Mức độ quá tải sắt có tương quan nghịch với LH, FSH, estradiol, prolactin và thuận với progesteron. Tỉ lệ dậy thì muộn và suy sinh dục tăng theo mức độ quá tải sắt. <strong>Kết luận:</strong> Quá tải sắt ảnh hưởng rõ rệt đến hormon sinh dục nữ, cần theo dõi và can thiệp sớm.</p>2026-01-20T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/163ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG LÀM LÀNH VẾT THƯƠNG BỎNG CỦA CAO CHIẾT NẤM LINH CHI Ganoderma lucidum TRÊN MÔ HÌNH GÂY BỎNG THỰC NGHIỆM Ở CHUỘT NHẮT TRẮNG2025-12-08T02:23:18+00:00Phượng Trần Thị Ngọc2253030074@student.ctump.edu.vnPhương Đỗ Ngọc Lam2253030072@student.ctump.edu.vnNguyên Nguyễn Thị Thảo 2253030061@student.ctump.edu.vnThương Nguyễn Thị Liênthuongntl@tdmu.edu.vnPhúc Nguyễn Trọng Hồng Phúcnthphuc@ctump.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng làm lành vết thương bỏng của cao chiết Nấm Linh Chi trên mô hình gây bỏng thực nghiệm ở da chuột nhắt trắng. <strong>Phương pháp</strong>: Mô hình gây bỏng được tiến hành bằng cách sử dụng dụng cụ kim loại hình trụ với đường kính 1cm. Chuột gây bỏng độ II được chia thành 03 nghiệm thức gồm 45 chuột nhắt trắng, lần lượt là: Đối chứng mô hình, điều trị bằng cao chiết Nấm Linh Chi, chứng dương với kem nghệ Levigatus. Chuột ở các nghiệm thức được theo dõi, đánh giá khả năng làm lành vết thương; phân tích mô học lát cắt ngang vùng bị tổn thương của mô da chuột các thời điểm sau ngày 1; ngày 3; ngày 7; ngày 10; ngày 14 kết hợp định tính các hợp chất sinh học và kháng khuẩn trong cao chiết Nấm Linh Chi. <strong>Kết quả</strong>: cao chiết Nấm Linh Chi có sự hiện diện của nhiều hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học như terpenoid, coumarin, tannin, polysaccharide, flavonoids, quinone. Có khả năng kháng khuẩn tốt, diệt khuẩn ở nồng độ <31,25 mg/mL cao chiết ở cả vi khuẩn gram âm và gram dương. Cao chiết có khả năng làm lành vết thương bỏng trên chuột nhắt trắng, không để lại sẹo sau 14 ngày điều trị, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với 2 nghiệm thức còn lại (p<0,05). <strong>Kết luận</strong>: cao chiết Nấm Linh Chi có tiềm năng sinh học rất lớn để áp dụng để làm các chế phẩm điều trị các vết thương.</p>2026-01-24T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/172PICEID BẢO VỆ TẾ BÀO THẦN KINH SH-SY5Y TRONG TỔN THƯƠNG THIẾU OXY – TÁI CUNG CẤP OXY2025-12-30T07:01:09+00:00Bích Phạm Thịphambichdhtn@gmail.comYến Ngô Thị Hảinguyenh0809@gmail.comLy Nguyễn Thị Hà colove139@yahoo.comThu Vũ thịthu05061982@yahoo.com<p><strong>Tóm tắt:</strong> Piceid (PIC) là hoạt chất được chứng minh có khả năng chống oxy hóa, chống viêm và có khả năng bảo vệ tế bào thần kinh trong một số bệnh lí. Tuy nhiên, cơ chế tác dụng của hoạt chất này đối với tế bào SH-SY5Y trong tổn thương thiếu oxy - tái cung cấp oxy (hypoxia/reoxygenation, HR) còn chưa được làm sáng tỏ. <strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ của PIC đối với tế bào thần kinh SH-SY5Y trong tổn thương HR. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Tủ nuôi thiếu oxy được sử dụng để tạo mô hình bệnh lý. Tế bào SH-SY5Y được nuôi trong điều kiện thường (đối chứng) và điều kiện HR. Khả năng sống, hàm lượng gốc oxy phản ứng ROS, thành phần cardiolipin, điện thế màng trong ti thể của tế bào SH-SY5Y ở các nhóm mẫu thí nghiệm được phân tích bằng các kít phù hợp. Kết quả thu được cho thấy, bổ sung PIC (12,5÷100 µM) làm tăng đáng kể tỉ lệ sống của tế bào SH-SY5Y trong điều kiện HR, đặc biệt là ở nồng độ 25 µM. Trong điều kiện HR, lượng cardiolipin và điện thế màng trong ti thể giảm mạnh, lượng ROS của tế bào tăng mạnh; việc bổ sung PIC đã làm tăng lượng cardiolipin, ổn định điện thế màng ti thể, đồng thời ức chế sự sản sinh quá mức ROS (p<0,05). <strong><em>Kết luận:</em></strong> Kết quả thu được là dẫn liệu bước đầu về tác dụng của PIC trong việc bảo vệ tế bào thần kinh SH-SY5Y hướng đích ti thể trong tổn thương HR.</p> <p><em>Từ khóa: Piceid, ti thể, tế bào thần kinh.</em></p>2026-01-26T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/176MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ PHỤC HỒI Ở NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2026-01-20T08:37:50+00:00Minh Hoàng Phandrhoangphan@bvphuchoichucnanghcm.vn Bùi Hồng Minh Quáchds.hongminh1@gmail.comHồng Hà Nguyễn nhha@ctump.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến quá trình phục hồi chức năng và khả năng tiếp cận dịch vụ với kết quả phục hồi ở người khuyết tật vận động tại Thành phố Hồ Chí Minh. <strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 372 đối tượng người khuyết tật vận động tham gia chương trình tập phục hồi chức năng trong đề án người khuyết tật tại Thành phố Hồ Chí Minh. <strong>Kết quả</strong>: Hiệu quả cải thiện chức năng sinh hoạt độc lập (FIM) khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm chẩn đoán lâm sàng (p = 0,001). Hiệu quả giảm co cứng cơ (Ashworth) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nhận thức về nhu cầu phục hồi chức năng (p = 0,007) và khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế có phục hồi chức năng (p = 0,003). Hiệu quả cải thiện lực cơ (MRC) liên quan có ý nghĩa thống kê với việc bệnh nhân tự tập luyện theo hướng dẫn (p = 0,003). Các yếu tố hỗ trợ gia đình và người chăm sóc không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hiệu quả phục hồi. <strong>Kết luận: </strong>Các yếu tố liên quan đến quá trình phục hồi chức năng và khả năng tiếp cận dịch vụ có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phục hồi ở người khuyết tật vận động, nhấn mạnh sự cần thiết của quản lý y tế toàn diện tại cộng đồng.</p>2026-03-02T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam