https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/issue/feedTạp chí Sinh lý học Việt Nam2026-04-06T05:58:54+00:00Tạp chí Sinh lý học Việt Namtapchisinhlyhocvn@gmail.comOpen Journal Systems<p>Tạp chí Sinh lý học Việt Nam là tạp chí chuyên ngành Sinh lý học. Tạp chí đăng tải các công trình nghiên cứu, các bài tổng quan, thông báo khoa học thuộc chuyên ngành Sinh lý học và các chuyên ngành có liên quan với Sinh lý học.</p>https://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/180KHẢO SÁT TỈ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH NHÂN KHÔ MẮT DO RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TUYẾN BỜ MI2026-03-16T03:38:38+00:00Thị Hồng Phúc Đinhoph.dthphuc@gmail.comHuỳnh Trang Võvhtrang@ctump.edu.vnMinh Kha Lêlmkha@ctump.edu.vnThanh Bình TrầnBsttbinh91@gmail.comQuang Bình Hoànghoangquangbinh096@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Khảo sát khảo sát đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh khô mắt (BKM) do rối loạn chức năng tuyến bờ mi (RLCNTBM). <strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 40 bệnh nhân (80 mắt) được chẩn đoán BKM do RLCNTBM tại Bệnh viện Mắt Răng Hàm Mặt Cần Thơ. Mức độ triệu chứng được đánh giá bằng OSDI. <strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu trên 80 mắt cho thấy bệnh khô mắt do rối loạn chức năng tuyến bờ mi chủ yếu ở mức độ nặng theo OSDI (86,2%). Các triệu chứng thường gặp gồm khô rát, cộm xốn và chảy nước mắt. Các dấu hiệu lâm sàng cho thấy mất ổn định phim nước mắt và tổn thương bề mặt nhãn cầu rõ, với TBUT thấp, CFS cao và rối loạn chức năng tuyến bờ mi mức độ cao. OSDI tương quan nghịch với Tear Break-Up Time (TBUT) và tương quan thuận với CFS, MQ, giãn mao mạch bờ mi và mức độ RLCNTBM. Phân tích đa biến xác định TBUT giảm, CFS tăng, MQ ≥ 12 điểm và giãn mao mạch bờ mi ≥ 2 điểm là các yếu tố liên quan độc lập với mức độ nặng. <strong>Kết luận</strong>: Mức độ nặng của BKM do RLCNTBM liên quan chặt chẽ đến mất ổn định phim nước mắt, tổn thương bề mặt nhãn cầu và viêm bờ mi.</p>2026-05-06T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/190QUAN ĐIỂM YHCT VỀ VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG: TỪ CƠ CHẾ BỆNH SINH ĐẾN ĐIỀU TRỊ2026-03-20T08:59:11+00:00Phụng Hoàng Phihoangphiphung1999@gmail.comKhoa Đặng Tiến Đăngdtdkhoa@ctump.edu.vnHoà Lê Chílechihoa9@gmail.comMinh Hoàng Lêlmhoang@ctump.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Hệ thống hóa các quan điểm của Y học cổ truyền về viêm loét dạ dày – tá tràng, bao gồm cơ chế bệnh sinh, phân loại hội chứng và các phương pháp điều trị, đồng thời tổng hợp một số nghiên cứu hiện đại liên quan đến ứng dụng Y học cổ truyền trong điều trị bệnh lý này. <strong>Phương pháp:</strong> Phân tích và tổng hợp các tài liệu y văn từ các cơ sở dữ liệu khoa học, các nghiên cứu lâm sàng, nghiên cứu tổng hợp và các giáo trình Y học cổ truyền. Tập trung vào cơ chế bệnh sinh của chứng “Vị quản thống”, các thể bệnh thường gặp và các phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc theo Y học cổ truyền. <strong>Kết quả:</strong> Theo Y học cổ truyền, viêm loét dạ dày – tá tràng chủ yếu được quy nạp vào phạm vi chứng “Vị quản thống”, liên quan đến sự mất điều hòa chức năng giữa các tạng Can, Tỳ và Vị, dẫn đến rối loạn khí cơ tại trung tiêu. Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều thể bệnh như can vị bất hòa, tỳ vị hư nhược, thấp nhiệt uất kết, huyết ứ trở trệ hoặc vị âm hư. Trong điều trị, Y học cổ truyền áp dụng nguyên tắc biện chứng luận trị với các phương pháp như sử dụng bài thuốc cổ phương, dược liệu và các liệu pháp không dùng thuốc như châm cứu, cứu ngải và cấy chỉ. Nhiều nghiên cứu cho thấy các phương pháp này có thể giúp cải thiện triệu chứng, thúc đẩy phục hồi niêm mạc dạ dày và nâng cao hiệu quả điều trị khi phối hợp với Y học hiện đại. <strong>Kết luận:</strong> Y học cổ truyền cung cấp cách tiếp cận điều trị toàn diện đối với viêm loét dạ dày – tá tràng. Việc kết hợp các phương pháp của Y học cổ truyền với Y học hiện đại có thể góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm nguy cơ tái phát và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.</p>2026-05-07T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/186NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT ĐỘ DÀY LỚP SỢI THẦN KINH QUANH GAI THỊ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ2026-03-31T09:04:09+00:00Vinh Lê Quanglpvinh1512@gmail.comMinh Lý Lêlpvinh1512@gmail.comThành Quý Caolpvinh1512@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm khảo sát độ dày lớp sợi thần kinh quanh gai thị (peripapillary retinal nerve fiber layer - pRNFL) ở bệnh nhân đái tháo đường và so sánh sự thay đổi pRNFL theo giai đoạn bệnh võng mạc đái tháo đường. <strong>Đối tượng và phương</strong> <strong>pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 81 mắt ở bệnh nhân đái tháo đường đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong thời gian 07/2025 - 02/2026. Bệnh nhân được thăm khám nhãn khoa toàn diện và chụp cắt lớp quang học (OCT) để đo độ dày pRNFL trung bình và các cung phần tư (trên, dưới, mũi, thái dương). <strong>Kết quả:</strong> Độ dày pRNFL trung bình và các cung dưới, trên, mũi, thái dương ở bệnh nhân đái tháo đường lần lượt là 104,75 ± 12,14 µm; 135,28 ± 19,74 µm; 127,04 ± 21,19 µm; 76,42 ± 12,45 µm và 80,37 ± 10,69 µm. Bệnh võng mạc đái tháo đường chiếm 30,9%. Khi so sánh theo giai đoạn bệnh, pRNFL trung bình và các cung dưới, trên giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm có bệnh võng mạc đái tháo đường (99,12 ± 9,74 µm; 120,92 ± 16,23 µm; 116,36 ± 15,9 µm) so với nhóm chưa có bệnh (107,27 ± 12,34 µm; 141,70 ± 17,78 µm; 131,80 ± 21,63 µm). <strong>Kết luận:</strong> Độ dày pRNFL ở bệnh nhân đái tháo đường có sự thay đổi theo giai đoạn bệnh võng mạc đái tháo đường. Chụp OCT là phương tiện hữu ích trong đánh giá tổn thương thần kinh võng mạc, góp phần hỗ trợ phát hiện sớm và theo dõi bệnh võng mạc đái tháo đường trong thực hành lâm sàng.</p>2026-04-17T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/187VAI TRÒ CHẤT CHUYỂN HOÁ CỦA HỆ VI SINH TRONG TRẦM CẢM: GÓC NHÌN TRỤC RUỘT–NÃO2026-03-19T03:01:16+00:00Minh Tiến Trầntranminhtien1020@gmail.comVăn Thống Nguyễnpkbsthong@gmail.com<div> <p class="p1"><span class="s1"><strong>Bối cảnh:</strong></span> Trầm cảm là rối loạn tâm thần phổ biến (khoảng 4% dân số toàn cầu, tương đương 332 triệu người) và liên quan chặt chẽ với tự sát (727.000 ca tử vong năm 2021). Khoảng ≥30% người bệnh không đáp ứng đầy đủ với điều trị chuẩn, đặt ra nhu cầu tìm kiếm chỉ dấu sinh học và đích can thiệp mới. <span class="s1"><strong>Mục tiêu:</strong></span> Hệ thống hoá vai trò các chất chuyển hoá chủ chốt của hệ vi sinh đường ruột trong sinh lý bệnh trầm cảm theo góc nhìn trục ruột–não, tập trung vào: (i) acid béo chuỗi ngắn (SCFA, đặc biệt butyrate), (ii) dẫn xuất indole từ tryptophan, (iii) trục tryptophan–kynurenine, và (iv) acid mật cùng tín hiệu FXR/TGR5; đồng thời tổng hợp bằng chứng về chỉ dấu sinh học và can thiệp hướng đích hệ vi sinh. <span class="s1"><strong>Phương pháp:</strong></span> Tổng quan tường thuật có định hướng hệ thống, ưu tiên tài liệu 2016–2026, trọng tâm là tổng quan hệ thống, phân tích gộp và nghiên cứu trên người; nghiên cứu thực nghiệm được dùng để làm rõ cơ chế. <span class="s1"><strong>Kết quả:</strong></span> Trầm cảm liên quan không chỉ với thay đổi thành phần (dysbiosis) mà còn với biến đổi chức năng chuyển hoá hệ vi sinh. SCFA, đặc biệt butyrate, góp phần duy trì hàng rào ruột, điều hoà miễn dịch, trục HPA và cơ chế biểu sinh. Dẫn xuất indole tác động qua AhR/PXR, tăng cường hàng rào ruột và điều biến miễn dịch; dữ liệu tiền lâm sàng gợi ý liên quan đến viêm thần kinh và hành vi kiểu trầm cảm. Hoạt hoá trục kynurenine do viêm phản ánh dịch chuyển chuyển hoá tryptophan theo hướng liên quan độc–bảo vệ thần kinh. Bất thường acid mật và tín hiệu FXR/TGR5 được ghi nhận trong MDD và nổi lên như chỉ dấu sinh học tiềm năng. <span class="s1"><strong>Kết luận:</strong></span> Chức năng chuyển hoá hệ vi sinh là cơ chế hợp lý nối ruột–miễn dịch–não trong trầm cảm. Tuy nhiên, bằng chứng nhân quả ở người còn hạn chế. Các nghiên cứu dọc, thử nghiệm can thiệp gắn endpoint chuyển hoá và mô hình đa omics có thể giúp phân tầng kiểu hình “viêm–chuyển hoá” để cá thể hoá điều trị.</p> </div>2026-04-17T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Namhttps://tapchisinhlyhoc.com.vn/index.php/vjp/article/view/177ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TẠO HÌNH MŨI KẾT HỢP TẠO HÌNH ĐẦU MŨI BẰNG VẬT LIỆU POLYCAPROLACTONE (PCL) VÀ SỤN VÀNH TAI CỦA BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN THẨM MỸ SAO HÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 20252026-03-26T07:03:52+00:00Huyền Linh Hồhohuyenlinh157@gmail.comQuốc Dương Trầnnvlam@ctump.edu.vnThị Huỳnh Nhi Nguyễnnvlam@ctump.edu.vnThành Nghiệp Nguyễnnvlam@ctump.edu.vnMinh Quy Nguyễnnvlam@ctump.edu.vn Thị Ngọc Nga Phạmnvlam@ctump.edu.vnVăn Lâm Nguyễnnvlam@ctump.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Khảo sát đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình mũi kết hợp tạo hình đầu mũi bằng vật liệu Polycaprolactone (PCL) và sụn vành tai. <strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 32 bệnh nhân nâng mũi lần đầu tại Bệnh viện thẩm mỹ Sao Hàn. <strong>Kết quả:</strong> Các dạng sống mũi chiếm tỷ lệ lần lượt: thẳng (31,25%), gồ (25%), gãy (21,875%) và lõm (21,875%). Sau 3 tháng phẫu thuật, chiều dài sống mũi tăng từ 36,21 ± 2,595 mm lên 39,12 ± 2,523 mm, độ nhô đỉnh mũi tăng từ 15,31 ± 1,693 mm lên 19,63 ± 2,554 mm, chiều rộng cánh mũi giảm từ 39,13 ± 2,921 mm xuống 37,17 ± 2,776 mm, góc mũi trán tăng từ 138,47 ± 10,519° lên 140,50 ± 6,021°, góc mũi môi tăng từ 87,25 ± 12,412° lên 91,50 ± 3,935°. Một số chỉ số thay đổi lần lượt: Baum 1,33 ± 0,193 – 1,11 ± 0,037, Goode 0,61 ± 0,059 – 0,66 ± 0,057, Crumley 1 5,05 ± 0,648 – 3,48 ± 0,304, Crumley 2 4,82 ± 0,46 – 4 ± 0,361 (p<0,05). Chỉ số mũi lý tưởng (n-prn:sn-prn:rH:n-en) thay đổi 2,48:1:0,7:0,91 sang 1,92:1:0,72:0,92. Một số biến chứng ghi nhận: trạng phù nề >2 tuần (3,125%), sống mũi lệch (3,125%), giảm cảm giác vùng đầu mũi (37,5%). Điểm ROE tăng từ 10,06 ± 3,331 điểm lên 20,66 ± 2,535. <strong>Kết luận: </strong>Phương pháp phẫu thuật tạo hình mũi kết hợp tạo hình đầu mũi bằng vật liệu Polycaprolactone (PCL) và sụn vành tai mang lại kết quả tốt sau 3 tháng phẫu thuật.</p>2026-04-06T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Sinh lý học Việt Nam