Một số đặc điểm điện thế kích thích thị giác (VEP) trên trẻ em bình thường lứa tuổi từ 6 đến 14

Thế Tùng Nguyễn , Văn Cường Trần1
1 s:24:"Bệnh viện Quân y 87";

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Kỹ thuật ghi điện thế kích thích thị giác (VEP- Visual Evoked Potential) cho phép đánh giá chức năng dẫn truyền thị giác. Bởi vậy, VEP đã và đang được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu trong một số bệnh lý thần kinh thị. Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành ghi VEP với kích thích bằng màn hình đảo (PR-VEP) trên 50 đối tượng trẻ em khỏe mạnh lứa tuổi 6 – 14 tuổi nhằm tìm hiểu một số đặc điểm điện thế kích thích thị giác, làm cơ sở tham chiếu trong nghiên cứu các bệnh lý thần kinh thị ở trẻ em lứa tuổi này. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thời gian tiềm tàng (TGTT) của các sóng N75, P100, N145 ở nam và nữ của nhóm nghiên cứu tương ứng là: 70,92 ± 4,47 ms và 69,71 ± 4,26 ms; 102,53 ± 6,32 ms và 100,74 ± 5,96 ms; 139,12 ± 7,01 ms và 138,79 ± 6,79 ms. Biên độ (BĐ) của các sóng N75, P100, N145 ở nam và nữ của nhóm nghiên cứu tương ứng là: 1,95 ± 0,36 μV và 1,49 ± 0,41 μV; 7,23 ± 1,32 μV và 6,67 ± 1,54 μV; 7,49 ± 2,53 μV và 6,59 ± 2,82 μV. Thời gian liên đỉnh (TGLĐ) N75 – P100; P100 – N145; N75 – N145 ở nam và nữ của nhóm nghiên cứu tương ứng là: 31,61 ± 4,06 ms và 31,02 ± 3,94 ms; 36,59 ± 4,54 ms và 38,06 ± 4,23 ms; 68,15 ± 5,00 ms và 69,30 ± 4,88 ms. Không có sự khác nhau của TGTT, BĐ và TGLĐ các sóng VEP giữa mắt phải (MP) và mắt trái (MT) của đối tượng nghiên cứu.

Chi tiết bài viết

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

1 2 > >>