PHÂN TÍCH GIẢN ĐỒ LƯU LƯỢNG-THỂ TÍCH TRONG PHÁT HIỆN TẮC NGHẼN KHU TRÚ ĐƯỜNG THỞ: NGHIÊN CỨU THỰC TẾ LÂM SÀNG CÓ ĐỐI CHIẾU HÌNH ẢNH HỌC

Tài Trần Quốc1, Nguyễn Thị Thuỳ Trang, Phan Triệu Mỹ Cảnh, Nguyễn Thị Kim Vân, Nguyễn Thị Thanh Hà, Cai Thành Nghĩa, Trần Thị Thuý
1 s:54:"Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh";

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và đặc điểm tắc nghẽn khu trú đường thở trên giản đồ lưu lượng–thể tích ở người bệnh đo hô hấp ký trong thực hành lâm sàng, đồng thời đối chiếu với hình ảnh học hoặc nội soi khi có dữ liệu. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 850 trường hợp hô hấp ký đạt tiêu chuẩn chất lượng tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2023. Giản đồ lưu lượng–thể tích được phân tích và phân loại thành các dạng tắc nghẽn ngoài lồng ngực dao động, trong lồng ngực dao động, cố định đường dẫn khí trung tâm, tắc nghẽn một nhánh phế quản chính và các dạng không điển hình. Kết quả: Có 98/850 trường hợp có dấu hiệu tắc nghẽn khu trú, chiếm 11,5%. Trong nhóm này, 68,4% vẫn có kết luận hô hấp ký không ghi nhận hội chứng tắc nghẽn hoặc hạn chế. Các dạng thường gặp gồm tắc nghẽn ngoài lồng ngực dao động 22 trường hợp, tắc nghẽn cố định đường dẫn khí trung tâm 17 trường hợp, tắc nghẽn một nhánh phế quản chính 24 trường hợp và các dạng khác 32 trường hợp. Nhóm tắc nghẽn cố định có giá trị gợi ý nguyên nhân cấu trúc cao nhất, với 16/17 trường hợp được xác định qua CT-scan hoặc nội soi. Chỉ số FEF50/FIF50 có giá trị hỗ trợ nhưng không đặc hiệu. Kết luận: Tắc nghẽn khu trú trên giản đồ lưu lượng–thể tích không hiếm gặp và có thể bị bỏ sót nếu chỉ dựa vào các chỉ số hô hấp ký định lượng. Phân tích hình dạng giản đồ cần được thực hiện hệ thống và kết hợp với lâm sàng, hình ảnh học hoặc nội soi khi phù hợp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo